
Tim thông tin blog này:
Thứ Hai, 24 tháng 11, 2014
Những lần trong lịch sử quân Việt tiến qua biên giới đánh quân Tàu
21 Tháng 11 2014 lúc 22:51Đám
đông thường được tinh thần dân tộc dẫn dắt theo cùng một hướng “cứ địch
là toàn sang đánh ta, còn cứ ta thì chống trả và đánh lại”. Lịch sử cho
thấy còn có những trường hợp ngoại lệ hơn chục lần quân Việt đã tấn
công qua biên giới phía Bắc, được nêu dưới đây như một vài sự kiện cần
nghiên cứu sâu hơn để làm rõ...


Thứ Bảy, 22 tháng 11, 2014
Một số vấn đề cơ bản về người Việt Nam ở Campuchia hiện nay
BẢN TÓM TẮT ĐỀ TÀI CẤP BỘ
* Quan niệm người Việt Nam ở Campuchia được sử dụng trong đề tài:
Trong đề tài này chúng tôi quan niệm người Việt Nam ở Campuchia là
những người có nguồn gốc Việt Nam hiện đang cư trú ở Campuchia hoặc đã nhập cư vào Campuchia. Tất cả những đối tượng này làm nên Cộng đồng người Việt Nam ở Campuchia (kể từ 3/2011, được phép của các cơ quan có liên quan của Việt Nam và Campuchia, về mặt tổ chức, Hội người Việt Nam ở Campuchia đã được đổi tên thành Tổng hội người Campuchia gốc Việt Nam tại Campuchia; ở cấp tỉnh là các Tỉnh hội. Do vậy, trong đề tài, có lúc chứng tôi gọi cộng đồng người Việt Nam ở Campuchia là cộng đồng người Campuchia gốc Việt Nam tại
Campuchia (mặc dù số lượng người Việt Nam đã nhập quốc tịch Khmer chỉ mới khoảng 15%), cả hai cách gọi này có nội hàm như nhau (trong một số tài liệu, văn bản có sử dụng từ Việt kiều, chúng giữ nguyên cách gọi này khi trích dẫn).
Đối tượng người Việt Nam nhập cảnh bất hợp pháp không thuộc diện nghiên cứu của đề tài 1.
* Mục tiêu của đề tài:
Tìm hiểu về họ người Khmer
Quan niệm dòng họ của người Khơme khác hẳn với các tộc người khác trong vùng, không hẳn là phụ hệ hay mẫu hệ. Trong cách tính dòng họ, một cá nhân không coi mình thuộc dòng họ bên cha hay bên mẹ. Do đó, ở người Khơme không có khái niệm về tộc hay họ tính theo một phía cha hoặc mẹ, trong quan hệ họ hàng không có sự phân biệt giữa bên cha và bên mẹ, không có khái niệm về bên nội và bên ngoại.
Tuy nhiên, do sự áp đặt cưỡng bức của chính quyền phong kiến thực dân, mặt khác, do chịu ảnh hưởng của hai tộc Việt, Hoa là những cư dân theo chế độ phụ hệ, nên người Khơme thường đặt tên con theo họ cha khi làm giấy khai sinh và kê khai hộ khẩu công dân. Nhưng trong quan hệ xã hội truyền thống của người Khơme thể hiện trong quan hệ dòng họ, hôn nhân và gia đình thì tên họ chỉ đơn thuần là một hình thức pháp lý, chưa theo phụ hệ như người Việt, người Hoa hoặc mẫu hệ như người Chăm.
(Nguyễn Thanh Luân)
Năm 1698 trở đi các chúa Nguyễn, vua Nguyễn đã tiếp tục củng cố cơ cấu chính quyền của mình tại vùng đất mới để quản lý các cư dân. Các vị vua nhà Nguyễn từ Gia Long đến Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, ….đã đặt cho người Khmer Nam Bộ phải mang dòng họ như: Thạch, Lâm, Sơn, Kim, Danh… Chẳng hạn như tại huyện Tri Tôn, Tịnh Biên, Huệ Đức, Châu Thành năm 1839, vua Minh Mạng ra sắc chỉ cho người Khmer ở An Giang và Hà Tiên đặt cho họ tên giống như tên người Hoa sở tại . Do vậy, hệ thống họ tên của người Khmer ở Tri Tôn, Châu Thành, tỉnh An Giang ngoài những gia đình có họ lai còn phổ biến các họ “Chau” và “Néang”…
(Trịnh Phước Nguyên)
Người Khmer có rất nhiều họ khác nhau. Những họ do triều Nguyễn trước đây đặt ra như: Danh, Kiên, Kim, Sơn, Thạch. Những họ tiếp thu từ người Việt và người Hoa như: Trần, Nguyễn, Dương, Trương, Mã, Lý... Lại có những họ thuần tuý Khmer như U, Khan, Khum.
(Ủy ban Dân tộc)
Các họ của người Khơ Me :
Bàn , Binh , Chau , Chiêm , Danh , Dơng, Đào, Điêu, Đoàn , Đỗ, Hiùnh, Hứa , Kỷ, Liêu, Lộc , Lục, Lu , Mai , Neang, Nuth, Ngô, Nguyễn, Panth, Pem, Pham , Sơn, Tăng, Tô, Từ , Tng, Thạch, Thị , Thuấn, Trà , Trần, U, Uônth, Xanh, Xath,Xum...
Các họ tên tiêu biểu của người Khơ Me Danh , Sơn, Kim, Thạch , Châu , Lâm , ví dụ :
Danh út, Ngọc Anh ( Nam )
Lâm Phú Thạch Thị ( nữ).
Phụ nữ thường phân biệt bằng chữ Thị hoặc Nêang . Người Khơ Me có họ từ thời Nguyễn , vua Minh Mạng , để kiểm kê hộ khẩu dân số. Trước đó người Khơ Me không có họ.
Nét văn hoá đặc sắc trong văn hoá dùng họ và đặt tên của ngời Khơ Me chính là : Để phân biệt những người cùng tên và có quan hệ huyết thống thì người Khơ Me thường gọi kèm tên người cha ( phụ tử liên danh) , tên người cha thành họ của người con./.
(Nguyễn Khôi)
Tuy nhiên, do sự áp đặt cưỡng bức của chính quyền phong kiến thực dân, mặt khác, do chịu ảnh hưởng của hai tộc Việt, Hoa là những cư dân theo chế độ phụ hệ, nên người Khơme thường đặt tên con theo họ cha khi làm giấy khai sinh và kê khai hộ khẩu công dân. Nhưng trong quan hệ xã hội truyền thống của người Khơme thể hiện trong quan hệ dòng họ, hôn nhân và gia đình thì tên họ chỉ đơn thuần là một hình thức pháp lý, chưa theo phụ hệ như người Việt, người Hoa hoặc mẫu hệ như người Chăm.
(Nguyễn Thanh Luân)
Năm 1698 trở đi các chúa Nguyễn, vua Nguyễn đã tiếp tục củng cố cơ cấu chính quyền của mình tại vùng đất mới để quản lý các cư dân. Các vị vua nhà Nguyễn từ Gia Long đến Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, ….đã đặt cho người Khmer Nam Bộ phải mang dòng họ như: Thạch, Lâm, Sơn, Kim, Danh… Chẳng hạn như tại huyện Tri Tôn, Tịnh Biên, Huệ Đức, Châu Thành năm 1839, vua Minh Mạng ra sắc chỉ cho người Khmer ở An Giang và Hà Tiên đặt cho họ tên giống như tên người Hoa sở tại . Do vậy, hệ thống họ tên của người Khmer ở Tri Tôn, Châu Thành, tỉnh An Giang ngoài những gia đình có họ lai còn phổ biến các họ “Chau” và “Néang”…
(Trịnh Phước Nguyên)
Người Khmer có rất nhiều họ khác nhau. Những họ do triều Nguyễn trước đây đặt ra như: Danh, Kiên, Kim, Sơn, Thạch. Những họ tiếp thu từ người Việt và người Hoa như: Trần, Nguyễn, Dương, Trương, Mã, Lý... Lại có những họ thuần tuý Khmer như U, Khan, Khum.
(Ủy ban Dân tộc)
Các họ của người Khơ Me :
Bàn , Binh , Chau , Chiêm , Danh , Dơng, Đào, Điêu, Đoàn , Đỗ, Hiùnh, Hứa , Kỷ, Liêu, Lộc , Lục, Lu , Mai , Neang, Nuth, Ngô, Nguyễn, Panth, Pem, Pham , Sơn, Tăng, Tô, Từ , Tng, Thạch, Thị , Thuấn, Trà , Trần, U, Uônth, Xanh, Xath,Xum...
Các họ tên tiêu biểu của người Khơ Me Danh , Sơn, Kim, Thạch , Châu , Lâm , ví dụ :
Danh út, Ngọc Anh ( Nam )
Lâm Phú Thạch Thị ( nữ).
Phụ nữ thường phân biệt bằng chữ Thị hoặc Nêang . Người Khơ Me có họ từ thời Nguyễn , vua Minh Mạng , để kiểm kê hộ khẩu dân số. Trước đó người Khơ Me không có họ.
Nét văn hoá đặc sắc trong văn hoá dùng họ và đặt tên của ngời Khơ Me chính là : Để phân biệt những người cùng tên và có quan hệ huyết thống thì người Khơ Me thường gọi kèm tên người cha ( phụ tử liên danh) , tên người cha thành họ của người con./.
(Nguyễn Khôi)
Vấn đề Kampuchia : Tranh chấp lãnh thổ.
(Tư liệu tham khảo)
Tranh chấp về lãnh thổ giữa hai bên VN và Kampuchia, nếu xét trên phương diện những yêu sách khác nhau của người Khmer hiện nay về lãnh thổ thì ta thấy các học giả Khmer nghiêng về lịch sử. Mà nói về lịch sử thì có thể nói là tranh chấp hai bên đã xảy ra từ rất lâu. Dầu vậy ta có thể chia ra làm năm thời kỳ. Mỗi thời kỳ bản chất của tranh chấp khác nhau, các lý lẽ biện minh cho yêu sách của các bên khác nhau. Điều này xảy ra do ảnh hưởng địa chính trị, hoàn cảnh lịch sử cũng như tinh thần dân tộc chủ nghĩa mạnh mẽ từ các bên.
Tranh chấp về lãnh thổ giữa hai bên VN và Kampuchia, nếu xét trên phương diện những yêu sách khác nhau của người Khmer hiện nay về lãnh thổ thì ta thấy các học giả Khmer nghiêng về lịch sử. Mà nói về lịch sử thì có thể nói là tranh chấp hai bên đã xảy ra từ rất lâu. Dầu vậy ta có thể chia ra làm năm thời kỳ. Mỗi thời kỳ bản chất của tranh chấp khác nhau, các lý lẽ biện minh cho yêu sách của các bên khác nhau. Điều này xảy ra do ảnh hưởng địa chính trị, hoàn cảnh lịch sử cũng như tinh thần dân tộc chủ nghĩa mạnh mẽ từ các bên.
Thời
kỳ đầu, từ đầu thế kỷ thứ 17 đến khi Nam kỳ trở thành thuộc địa của Pháp 1862.
Thời
kỳ thứ hai, từ năm 1862 đến năm 1945, sau khi Đại chiến thế giới kết thúc.
Thời
kỳ thứ ba, từ 1945 cho đến năm 1954, hiệp định Genève được ký kết.
Thời
kỳ thứ tư, từ 1954 đến 1975.
Thời
kỳ thứ năm từ 1975 đến hôm nay.
Thú vị khi tìm hiểu địa danh Nam Bộ gốc tiếng Khmer
Sài Gòn: Từ
gốc theo tiếng Khmer là Prây Nôkôr (hay Brai Nagara theo tiếng Phạn
mà người Miên mượn), có nghĩa là "thị trấn ở trong rừng", "Prei" hay
"Brai" là "rừng", "Nokor" hay "Nagara" là "thị trấn". Đây là vùng mà
chúa Nguyễn đã mượn làm nơi thu thuế. Theo tiến trình của ngôn ngữ, Prei hay Brai biến thành Rai, thành "Sài", Nokor bị bỏ "no" thành "kor", và từ "kor" thành "gòn".
Cần Giờ: (Tp HCM) Cần Giờ vốn có nguồn gốc từ tiếng Khmer Kầnchoeu nghĩa là cái thúng.
Cần Đước: (Long An) Có gốc từ tiếng Khmer là andoek tức là con rùa dạng trung bình.Chắc hẳn thời xa xưa có rất nhiều rùa sống ở đây?
Lấp Vò: Huyện thuộc tỉnh An Giang. Khmer: srôk tức por = xóm nước nóng.
Cần Giờ: (Tp HCM) Cần Giờ vốn có nguồn gốc từ tiếng Khmer Kầnchoeu nghĩa là cái thúng.
Cần Đước: (Long An) Có gốc từ tiếng Khmer là andoek tức là con rùa dạng trung bình.Chắc hẳn thời xa xưa có rất nhiều rùa sống ở đây?
Lấp Vò: Huyện thuộc tỉnh An Giang. Khmer: srôk tức por = xóm nước nóng.
Gò Vấp: Âm gốc tiếng Khmer là Kompăp, một loại cây cứng như lim.
Thứ Năm, 20 tháng 11, 2014
Sắc thái người phụ nữ Việt qua ống kính của Thomas Jeppesen
Trẻ trung - quyến rũ và già nua - từng trải, đó là hai sắc thái đối lập về người phụ nữ Việt Nam được thể hiện qua những bức ảnh của Thomas Jeppesen - một đạo diễn người Đan Mạch đang sinh sống và làm việc ở Hà Nội.

Vũ điệu áo dài.
Vũ điệu áo dài.
Chân Dung Người Việt Nam qua ống kính của Réhahn Croquevielle
Nghe lại "Hận Đồ Bàn" qua giọng ca Việt Ấn, Chế Linh
Lichsuvn: Hận
Đồ Bàn bài ca do tác giả Xuân Tiên sáng tác phảng phất âm hưởng bi
tráng của đất Chiêm Thành xa xưa. Chiêm Thành thời xa xưa đã từng là một
nước mạnh từng gây những trận chiến kinh hoàng cho Đại Việt nhưng cuối
cùng đã bị Đại Việt xóa sổ.Ký ức của một quốc gia xa xưa liệu có bị xóa
nhòa.
Vào năm 1962 ,nhạc sĩ Xuân Tiên đã đi qua vùng Mỹ Sơn, Trà Kiệu, Vầu Bào Phan Rang, tận mắt chứng kiến những di tích Chàm đổ nát với thời gian nhưng vẫn còn Hùng tráng, ông chợt hiểu rằng Ngày xa xưa dân tộc Chàm cũng đã từng có một quá khứ Oanh liệt. Than ôi Ngày Oanh liệt đó chỉ còn là những Ngôi Tháp Chàm đổ nát phơi mình trong Nắng Mưa và thấp thaóng đàng sau những rừng lau Sậy um tùm với những cảm xúc đó ông đã viết lên Ca khúc "Hận Đồ Bàn .
Bài hát tái hiện lịch sử oai hùng với cảnh các thớt voi chiến, các chiến binh Chiêm Thành và hình ảnh Chế Bồng Nga cưỡi chiêm thuyền lẫm liệt cùng với cảnh dạ yến tiệc. Bài hát cũng là sự hoài niệm về kinh thành người xưa với những tháp thiêng đứng trầm tư cỏ lau mọc khắp lối.
Vào năm 1962 ,nhạc sĩ Xuân Tiên đã đi qua vùng Mỹ Sơn, Trà Kiệu, Vầu Bào Phan Rang, tận mắt chứng kiến những di tích Chàm đổ nát với thời gian nhưng vẫn còn Hùng tráng, ông chợt hiểu rằng Ngày xa xưa dân tộc Chàm cũng đã từng có một quá khứ Oanh liệt. Than ôi Ngày Oanh liệt đó chỉ còn là những Ngôi Tháp Chàm đổ nát phơi mình trong Nắng Mưa và thấp thaóng đàng sau những rừng lau Sậy um tùm với những cảm xúc đó ông đã viết lên Ca khúc "Hận Đồ Bàn .
Bài hát tái hiện lịch sử oai hùng với cảnh các thớt voi chiến, các chiến binh Chiêm Thành và hình ảnh Chế Bồng Nga cưỡi chiêm thuyền lẫm liệt cùng với cảnh dạ yến tiệc. Bài hát cũng là sự hoài niệm về kinh thành người xưa với những tháp thiêng đứng trầm tư cỏ lau mọc khắp lối.
Quân tình nguyện VN đã sống và chiến đấu như thế nào...(XVIII) - hết
Lính C2 chúng tôi nhận lệnh đi bảo vệ tàu hỏa , trong đội hình E209 thì
đây là lần đầu tiên đi làm nhiệm vụ này vì vậy cấp trên không có một
chút kinh nghiệm nào phổ biến xuống cho anh em binh sỹ như những chiến
dịch trước , D7 được chọn đi tiên phong và C2 chúng tôi đương nhiên sẽ
là đứng mũi chịu sào . Lính C2 thì thấy cái gì mới mẻ khó khăn cũng dí
cũng ủi đơn vị mình nên cũng có thái độ bất mãn bóng gió chửi đổng cạnh
khóe .
- ..... cái .... cũng C2 .
- ..... Ị không ra cũng C2 .
- ..... Làm lính C2 nhục như con cún . vv
Nói thì nói vậy thôi , cằn nhằn với nhau thế đấy nhưng cũng bảo nhau lo mà chuẩn bị tư trang vũ khí lên đường , đi nhanh về nhanh hoàn thành nhiệm vụ rồi còn chuẩn bị ăn mừng ngày thành lập QD đón năm mới Tết tây 1980 sang 1981 .
Nhiệm vụ lần này của C2 chúng tôi là bám theo tàu hỏa từ ngã tư đường tàu lên đến Bat Dambang rồi trở về ngược lại , sẽ phải giải lính khắp đoàn tàu trong tư thế sẵn sàng chiến đấu bảo vệ tàu cùng tài sản khác khi bị địch chặn đánh dọc đường sắt , nhiều đoàn tàu trở gạo từ Bat Dambang về Phnom Penh từng bị địch chặn đánh cướp phá giữa những cánh rừng gây nhiều thiệt hại cho ngành đường sắt K cũng như QTN VN chúng ta lúc đó , cùng đi với C2 có thêm 1 khẩu đội DKZ75ly của C5 cùng 1 cán bộ E 1 của F trực tiếp chỉ huy giám sát . Hỏa lực mạnh của bộ binh mang theo hết mỗi người 3 cơ số đạn không dùng cối 60ly mà mang theo khẩu đại liên hỏa lực mạnh của C , gạo không nhiều 1 cơ số và những chiếc bi đông nhựa to 5 lít để tích trữ nước trên dọc đường đi , mùa khô đang dần đến và hành quân tác chiến cơ giới thì chuẩn bị nước dùng dọc đường cũng khá quan trọng .
- ..... cái .... cũng C2 .
- ..... Ị không ra cũng C2 .
- ..... Làm lính C2 nhục như con cún . vv
Nói thì nói vậy thôi , cằn nhằn với nhau thế đấy nhưng cũng bảo nhau lo mà chuẩn bị tư trang vũ khí lên đường , đi nhanh về nhanh hoàn thành nhiệm vụ rồi còn chuẩn bị ăn mừng ngày thành lập QD đón năm mới Tết tây 1980 sang 1981 .
Nhiệm vụ lần này của C2 chúng tôi là bám theo tàu hỏa từ ngã tư đường tàu lên đến Bat Dambang rồi trở về ngược lại , sẽ phải giải lính khắp đoàn tàu trong tư thế sẵn sàng chiến đấu bảo vệ tàu cùng tài sản khác khi bị địch chặn đánh dọc đường sắt , nhiều đoàn tàu trở gạo từ Bat Dambang về Phnom Penh từng bị địch chặn đánh cướp phá giữa những cánh rừng gây nhiều thiệt hại cho ngành đường sắt K cũng như QTN VN chúng ta lúc đó , cùng đi với C2 có thêm 1 khẩu đội DKZ75ly của C5 cùng 1 cán bộ E 1 của F trực tiếp chỉ huy giám sát . Hỏa lực mạnh của bộ binh mang theo hết mỗi người 3 cơ số đạn không dùng cối 60ly mà mang theo khẩu đại liên hỏa lực mạnh của C , gạo không nhiều 1 cơ số và những chiếc bi đông nhựa to 5 lít để tích trữ nước trên dọc đường đi , mùa khô đang dần đến và hành quân tác chiến cơ giới thì chuẩn bị nước dùng dọc đường cũng khá quan trọng .
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)
