Theo nhiều tài liệu nghiên cứu, cây cà phê xuất hiện đầu tiên ở
Việt Nam vào năm 1870 tại khuôn viên nhà thờ công giáo ở các tỉnh Bắc bộ
và Bắc Trung bộ. Khi đến với Tây Nguyên, cây cà phê nhanh chóng trở
thành mặt hàng đặc sản và được đầu tư thành cây chủ lực trong nông
nghiệp, do thích hợp với thổ nhưỡng nơi đây. Tại phố núi Kontum, cà phê
vẫn giữ nguyên những thế mạnh của mình với hai loại chủ yếu: cà phê Chè
(Coffea Arabica), còn gọi cà phê sẻ, có giá trị kinh tế cao; và cà phê
Vối (Coffea Canephora hoặc Coffea Robusta), còn gọi là cà phê trâu, là
cây quan trọng thứ hai trong các loài cà phê. Đến đầu năm 2013, cả tỉnh
Kontum có trên 11.500 héc-ta cà phê, riêng huyện Đăk Hà có gần 7.000
héc-ta (theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn năm 2012).
Tuy chưa có thống kê cụ thể, nhưng có lẽ mật độ quán cà phê ở
thành phố Kontum thuộc vào loại cao so với các tỉnh thành khác trong khu
vực Tây Nguyên, nếu đem so sánh với tỷ lệ dân số. Và việc thưởng thức
cà phê ngày nay đang dần dần được nâng lên thành nét “văn hóa cà phê”,
chứ không chỉ đơn giản là “uống” thứ thức uống mà nhiều người yêu thích.
Nhiều khách du lịch khi đến với thành phố Kontum đã rất đỗi ngạc nhiên:
“Đi đâu cũng gặp quán cà phê!”. Và người dân Kontum đã yêu chuộng thứ
thức uống này, họ thường có mặt đông đảo tại các quán cà phê, nhất là
những ngày cuối tuần hay những dịp nghỉ lễ.
Tim thông tin blog này:
Thứ Sáu, 31 tháng 10, 2014
Đi tìm nguồn cội của Kontum
Nguồn Tài liệu : Giáo Phận Kontum
Ngày 27-12-2006, Đức cha Micae Hoàng Đức Oanh, Giám mục Giáo phận Kontum, chính thức bổ nhiệm Cha AntônPadua Nguyễn Văn Binh làm Chánh xứ tín hữu dân tộc Bahnar Jơlơng, thuộc xã Hà Tây, huyện ChưPah, gồm 9 làng, và Kon Mahar, cũng như một số họ đạo liên hệ trong xã Hà Đông, tỉnh Gialai.
Sinh ngày 9-8-1957, tại Phường Thắng Lợi, Thị xã Kontum, thuộc Giáo xứ Phương Nghĩa, Giáo phận Kontum.
NGƯỢC DÒNG THỜI GIAN HÀNH HƯƠNG VỀ KON KƠXÂM TRUNG TÂM TRUYỀN GIÁO CHO NGƯỜI BAHNAR JƠLƠNG
CỘI NGUỒN-ĐẤT TỔ
***NGƯỢC DÒNG THỜI GIAN
LỜI NÓI ĐẦUNgày 27-12-2006, Đức cha Micae Hoàng Đức Oanh, Giám mục Giáo phận Kontum, chính thức bổ nhiệm Cha AntônPadua Nguyễn Văn Binh làm Chánh xứ tín hữu dân tộc Bahnar Jơlơng, thuộc xã Hà Tây, huyện ChưPah, gồm 9 làng, và Kon Mahar, cũng như một số họ đạo liên hệ trong xã Hà Đông, tỉnh Gialai.
Sinh ngày 9-8-1957, tại Phường Thắng Lợi, Thị xã Kontum, thuộc Giáo xứ Phương Nghĩa, Giáo phận Kontum.
Trận lụt 1938 tại Kontum
Leminhson sưu tầm
Khúc sông Dak Bla trước mặt nhà thờ Tân Hương dọc theo con đường Bạch Đằng, Tp Kon Tum đã uyển chuyển khi bồi khi lở từ bờ phía Nam hoặc lên bờ phía Bắc; có khi lở đến sát chân đồi Gò Mít nơi nhà thờ Tân Hương hiện nay tọa lạc. Vào thập niên 1930-1940, dòng sông đã chảy sát hừng Xóm Sũng (xóm trước nhà thờ Tân Hương) và làng Kon H’rachôt hiện nay. Vào thập niên 1940-1950, dòng sông này lại chia ra thành hai nhánh tạo thành hai cù lao (đồn cát) – cù lao ông Kiểm Thương (cha của ông Khiêm (+), bà Thuyền, bà Quyên) nằm thẳng trước đường Trần Phú kéo dài bây giờ và cù lao ông Xã Muồi (cha của linh mục Võ Văn Sự (+)) nằm phía dưới cầu Dak Bla khoảng 100-150 mét. Nhờ cù lao này (cù lao ông Xã Muồi) mà trước kia người ta đã bắc được một cây cầu bằng gỗ thấp và cong nối liền hai bờ Bắc Nam. Hai cù lao này đã bị xoá đi sau cây lụt lớn vào năm 1972. Theo truyền tụng cứ mỗi chu kỳ 20 năm, Kon Tum có một cây lụt lớn (1932-1952-1972….). Dường như chu kỳ này ngày nay đã lệch vì sinh thái ở Kon Tum đã đổi thay khi mật độ dân số gia tăng và nạn phá rừng để làm nương rẫy, khai thác gỗ trở nên phổ biến.

Khúc sông Dak Bla trước mặt nhà thờ Tân Hương dọc theo con đường Bạch Đằng, Tp Kon Tum đã uyển chuyển khi bồi khi lở từ bờ phía Nam hoặc lên bờ phía Bắc; có khi lở đến sát chân đồi Gò Mít nơi nhà thờ Tân Hương hiện nay tọa lạc. Vào thập niên 1930-1940, dòng sông đã chảy sát hừng Xóm Sũng (xóm trước nhà thờ Tân Hương) và làng Kon H’rachôt hiện nay. Vào thập niên 1940-1950, dòng sông này lại chia ra thành hai nhánh tạo thành hai cù lao (đồn cát) – cù lao ông Kiểm Thương (cha của ông Khiêm (+), bà Thuyền, bà Quyên) nằm thẳng trước đường Trần Phú kéo dài bây giờ và cù lao ông Xã Muồi (cha của linh mục Võ Văn Sự (+)) nằm phía dưới cầu Dak Bla khoảng 100-150 mét. Nhờ cù lao này (cù lao ông Xã Muồi) mà trước kia người ta đã bắc được một cây cầu bằng gỗ thấp và cong nối liền hai bờ Bắc Nam. Hai cù lao này đã bị xoá đi sau cây lụt lớn vào năm 1972. Theo truyền tụng cứ mỗi chu kỳ 20 năm, Kon Tum có một cây lụt lớn (1932-1952-1972….). Dường như chu kỳ này ngày nay đã lệch vì sinh thái ở Kon Tum đã đổi thay khi mật độ dân số gia tăng và nạn phá rừng để làm nương rẫy, khai thác gỗ trở nên phổ biến.
Khúc Kroong Blah đoạn đường Bạch Đằng
Làng Phương Hòa - Như lạc vào chốn xưa
Như lạc vào chốn xưa
|
Bãi đá Rơ wang và dòng sông ăn thịt người
Khúc sông qua làng Rơ wang, cách
trung tâm TP.Kon Tum 2 km, có một bãi đá lộ thiên nằm giữa dòng sông Đăk
Bla cuồn cuộn chảy. Người Kon Tum gọi đó là bãi đá Rơ wang gắn liền với
lời nguyền của một chuyện tình hận trên sông này.
Đôi điều về dòng sông ĐăkBla
Trên
bản đồ đất nước Việt Nam, Đakbla là một con sông quá nhỏ lại nằm ở vùng
cao hẻo lánh nên ít được người biết mà hầu như sách vở cũng không hề
nhắc đến. Nhưng trong lòng người dân Kontum, đó lại là dòng sông độc đáo
tuyệt vời, bởi vì không có sông Đakbla thì không có Kontum, xét về mặt
lịch sử cũng như địa lý. Ngay cả cái tên Kontum cũng không thể có nếu
không có dòng Đakbla uốn khúc. Những người xa xứ từng gửi gắm tuổi thơ
đời mình trên dòng Đakbla, “nay trở về lòng chợt vui thấy sông không
già” (*). Quả thật, qua bao nhiêu thăng trầm của lịch sử, dòng Đakbla
vẫn mơn mởn tình tứ uốn khúc ôm trọn cái thị xã nhỏ bé hiền hòa trên
miền rừng núi xa xăm nầy. Nhưng trước những đổi thay đang diễn ra trước
mắt, người dân Kontum có quyền tự hỏi tương lai nào dành cho dòng sông
Đakbla và cho những con người thấp cổ bé miệng từ bao đời nay vẫn gắn bó
với dòng sông nầy.
ĐÔI DÒNG LỊCH SỬ
ĐÔI DÒNG LỊCH SỬ
Thứ Năm, 30 tháng 10, 2014
Cà phê với Ẩn
Té ra ông này
yêu Tây Nguyên và văn hóa Tây nguyên đến kinh ngạc. Hiện quán cà phê nhà ông là
một bảo tàng về Tây nguyên đã đành, bản thân ông cũng là một nhân chứng văn
hóa. Tự học tiếng Bahnar để có thể nói chuyện với người Bahnar như người
Bahnar, ông còn tự học tiếng Anh để làm… guide. Thế là cứ lầm lũi một mình suốt
ngày trong làng dân tộc, có khi ông dùng xe máy chở mỗi một ông tây ba lô luồn
rừng vào làng ở cả tuần. Có vẻ như việc kinh doanh chỉ là phụ, bởi ông hoàn
toàn không biết đã bỏ ra bao nhiêu tiền để đầu tư, chỉ cười hơ hơ nói nhiều lắm
không biết, hỏi vợ ấy, nhưng ông lại biết rất rõ làng nào có lễ ăn trâu, có
samok, có pơ thi, có cúng bến nước, có đám cưới đám ma để mò vào, khi một mình,
khi cõng thêm vài anh tây ba lô, cũng ăn cũng uống cũng bốc bải, cũng ngủ nghê
cũng chơi y như dân làng…
------------
Đến Kon Tum có
một quán cà phê không thể không đến, ấy là cà phê Ê Va, và có một con người
không thể không gặp, đấy là họa sĩ Nguyễn Ngọc Ẩn, chủ quán cà phê này.
Địa chủ xưa và Tài chủ nay làm giàu như thế nào?
Phùng Hoài Ngọc
* Tác giả gửi bài trực tiếp cho VNTB
Trước Pháp cai trị: địa chủ phú nông là số ít
Làng
quê miền Bắc tồn tại lâu đời với những tuổi sử khác nhau, theo từng
vùng khác nhau. Miền núi rừng, trung du có tuổi đời lâu nhất, từ một đến
hai nghìn năm với dấu tích chứng minh… Còn quê tôi thuộc vùng đồng bằng
sông Hồng, sớm nhất cũng trên nghìn năm. Làng tôi ở tỉnh Hà Đông cũ với
tuổi thọ tối thiểu ước chừng 800 tuổi, chính thức thành lập từ thời nhà
Mạc. Cụ đại tướng thời ấy vốn là người nơi khác đến ngụ cư ở làng lúc
ấy chỉ có vài chục nóc nhà. Sau cụ đi lính làm nên đại tướng thành danh
được vua nhà Mạc cấp cho cả một cánh đồng rộng lớn nay bao trùm ba xã.
Cụ kêu gọi người tứ xứ đến ở. Lần đầu cụ chia đất cho từng hộ theo nhân
khẩu. Phần còn lại gọi là đất công (công thổ và công điền) dùng để cho
thuê thu hoa lợi hoặc thu tiền theo phần trăm làm quỹ công, xây đình
thờ, nuôi ông từ và chi phí thờ cúng cụ về sau… Thế là thành làng. Ngày
nay làng tôi cũng như những làng tương tự còn có đình thờ cụ, gọi là
đình thành hoàng, hằng năm có ngày giỗ chung gọi là hội làng. Đình làng,
cổng làng có ghi năm tháng chữ Hán hoặc Nôm đắp
nổi, khắc chìm nên đã trở thành dấu tích tuổi sử rõ ràng. Còn trước đó
làng tôi đã tồn tại bao nhiêu năm thì hầu như không có dấu tích lịch sử,
văn bản, sổ sách gì cả.
Thứ Tư, 29 tháng 10, 2014
Góp nhặt buồn vui thời cải tạo
Người miền Nam
có câu nói ám chỉ một sự việc xa vời, vô định, vô vọng và chìm sâu vào tuyệt
vọng: “Mút chỉ cà tha”.
Những tưởng học tập cải tạo 10 ngày để rồi trở về với cuộc
sống bình thường hàng ngày, ai ngờ đã qua 10 ngày mà vẫn thấy chưa học tập được
một chữ nào! Thế cho nên chúng tôi bảo nhau: “Kiểu này học tập... mút chỉ cà tha!”
Sau này tình cờ đọc Cánh
đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư (một nhà văn nữ ở miền cực Nam đất nước)
tôi mới biết Mút Cà Tha là một địa
danh có thật, ở tận miệt Cà Mau, nơi có những tên đượm sắc Nam bộ như Đầm Chim,
Đầm Dơi, Chắc Băng, Cạnh Đền, Gành Hào, Năm Căn, U Minh, Trèm Trẹm và… Mút Cà Tha! Có lẽ cù lao Mút Cà Tha hàm ý nơi tận cùng của miền
cực nam đất nước nên mới có thành ngữ “mút
chỉ cà tha”, đi hoài không tới! Đối với người cải tạo cũng vậy, học hoài
không về!
Góp nhặt buồn vui thời điêu linh: Cải tạo Công thương nghiệp
Người ta thường nói đến chuyện cải tạo ngụy quân-ngụy quyền
sau ngày 30/4/75 nhưng ít người nhắc đến một hình thức cải tạo không kém phần
quan trọng trong thời điêu linh và có ảnh hưởng sâu đậm đến đời sống kinh tế
của người dân. Cuộc cải tạo này đã biến miền Nam đang từ nền kinh tế tư bản sang
nền kinh tế xã hội chủ nghĩa và cái giá phải trả là sự tụt hậu của cả đất nước.
Đó là chính sách Cải
tạo công thương nghiệp (CTCTN) hay còn được biết đến qua ngôn ngữ bình dân:
Đánh tư sản. CTCTN là con đường ngắn
nhất được chính quyền mới dùng để quét sạch mọi giai cấp - từ tư sản đến tiểu
tư sản - để chỉ còn giai cấp nông dân và công nhân trong chế độ xã hội chủ
nghĩa.
Cửa hàng quốc doanh trên phố Tràng Tiền, Hà Nội, tháng 3/1970
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)

