Tại châu Á, Malaysia thực hiện Chính sách kinh tế mới (Dasar
Ekonomi Baru – New Economic Policy (NEP) của Thủ tướng Tun Abdul Razak trong
thời gian từ năm 1971 đến 1990. Sang đến Việt Nam, thời chính quyền Việt Nam Cộng
hòa cũng đã có chính sách kinh tế mới và sau này, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa,
cũng thực hiện chính sách này từ năm 1977 đến 1984.
Tim thông tin blog này:
Thứ Tư, 29 tháng 10, 2014
Góp nhặt buồn vui thời điêu linh: Kinh tế mới
Kinh tế mới là
thuật ngữ đã được sử dụng tại nhiều nước vào các thời kỳ kinh tế khác nhau. Tại
Liên Xô, trong giai đoạn từ 1921 đến 1929, có Novaya Ekonomicheskaya Politika (Chính sách kinh tế mới). Trong khi
đó, tại Hoa Kỳ, thời kỳ 1933-1936, Tổng thống Franklin D. Roosevelt đã đưa ra
một loạt chương trình nhằm phục hồi nền kinh tế trong nước sau thời kỳ Đại khủng hoảng (Great Depression).
Chính sách này được biết đến qua thật ngữ New
Deal, cũng được xếp vào loại Chính sách kinh tế mới.
Góp nhặt buồn vui thời điêu linh: Chợ trời
- Mại dô… Mại dô… Đồng hồ mười hai trụ đèn, không người lái,
hai cửa sổ… Xem thử đi các đồng chí… Cái đồng hồ này đáng giá cả một gia tài,
nhưng bây giờ chỉ bán với giá ủng hộ…
- Chụp ảnh lấy liền chỉ mất 30 giây bằng máy Polaroid tối
tân của Mỹ… Chụp đầy đủ cả bộ Đạp-Đổng-Đài để làm kỷ niệm… Chỉ còn một ít giấy
ảnh, chụp ngay kẻo hết... Giá chỉ một ngàn đồng Ngụy một tấm…
Vài chú bộ đội tần ngần dừng chân đứng lại, một chú thắc
mắc:
- Chụp 30 giây là thế nào?
- Chỉ sau 30 giây là đồng chí có một tấm ảnh bên cạnh xe
đạp, đồng hồ đeo trên tay và radio đeo bên nách… Chụp đi đồng chí rồi gửi về
Bắc làm kỷ niệm, chỉ mất có 1 đồng tiền mới, không có tiền mới thì trả tiền
Ngụy cũng được!
Góp nhặt buồn vui thời điêu linh: Đổi tiền
Đồng tiền nối liền
khúc ruột cho nên mọi sự thay đổi về tiền tệ từ phía chính quyền trong bất
kỳ thời kỳ nào cũng có ảnh hưởng sâu đậm đến người dân sống trong tầm chi phối
của nhà cầm quyền đó. Tính từ năm 1975, lịch sử Việt Nam đã có đến 3 lần đổi tiền với
cột mốc là các năm 1975, 1978 và 1985.
Vào thời điểm cuối tháng 4/1975, lượng tiền mặt tại miền Nam do Ngân hàng Quốc gia Việt Nam phát hành
và lưu trữ trong ngân khố VNCH được tính khoảng hơn 1.000 tỷ đồng, tương đương
hơn 2 tỷ USD. Tuy nhiên, trên thực tế, lượng tiền mặt trong lưu thông trên thị
trường niền Nam
vào lúc đó chiếm khoảng 615 tỷ đồng.
Tại Sài Gòn, ngay chiều 30/4/1975, hầu hết các Ngân hàng của
VNCH ở khu vực Sài Gòn – Gia Định – Chợ Lớn đều đã được niêm phong, bộ đội tiếp
quản toàn bộ kho tiền và các ngân hàng. Sáng 1/5, Uỷ Ban Quân quản của Chính
phủ Cách mạng Lâm thời ra lệnh quốc hữu hoá toàn bộ hệ thống ngân hàng cũ.
Mặt trước giấy bạc 100đ, phát hành tại miền Nam năm 1955
Thứ Ba, 28 tháng 10, 2014
Thứ Hai, 27 tháng 10, 2014
Giữ Trường Sa trước tham vọng bá quyền (I)
21/10/2014 13:30
(TNO) Ngay từ ngày đầu tiên tiếp quản Trường Sa từ tay chính quyền Sài Gòn (đầu tháng 4.1975), những người lính hải quân QĐND Việt Nam đã ngay lập tức đối đầu với những con tàu nước ngoài lăm le chiếm đảo. Trong suốt gần 40 năm, sự căng thẳng chưa bao giờ giảm nhiệt trên từng điểm đảo, từng góc trời Tổ quốc nơi biển Đông.
Đại tá Phạm Duy Tam (thứ ba từ trái sang) trong một lần ra thăm Trường Sa (Trung Hiếu chụp lại ảnh tư liệu)
|
Giữ Trường Sa trước tham vọng bá quyền (II)
Kỳ 4: Những cuộc đối đầu căng thẳng
24/10/2014 06:20(TNO) Giai đoạn cuối 1986 đến tháng 3.1988 là quãng thời gian đối đầu căng thẳng giữa ta và các lực lượng nước ngoài âm mưu chiếm đóng các đảo ở Trường Sa. Trong đó, tàu Trung Quốc nguy hiểm và hung hãn nhất.
>> Giữ Trường Sa trước tham vọng bá quyền - Kỳ 3: An Bang, Thuyền Chài giữa vòng vây
>> Giữ Trường Sa trước tham vọng bá quyền - Kỳ 2: Chạm trán
>> Giữ Trường Sa trước tham vọng bá quyền
>> Giữ Trường Sa trước tham vọng bá quyền - Kỳ 2: Chạm trán
>> Giữ Trường Sa trước tham vọng bá quyền
Tàu chiến Trung Quốc cắt mũi khiêu khích tàu vận tải của ta trên vùng biển Cô Lin - Len Đao, tháng 5.1988 |
Chủ Nhật, 26 tháng 10, 2014
Câu chuyện đáng suy ngẫm về đất nước và con người Hàn Quốc
Cô bán hàng mỹ phẩm ở Seoul
Thập niên 60, Hàn Quốc là 1 trong những nước nghèo đói nhất châu Á. Năm 1968, người Hàn quyết định thay đổi giáo dục bằng cách bê nguyên sách giáo khoa của người Nhật về dịch sang tiếng Hàn và giảng dạy, ngoại trừ các môn xã hội như địa lý, lịch sử và văn học. Lúc đó cũng có nhiều người chỉ trích vì tính sĩ diện của người Hàn Quốc rất cao, lẽ nào lại không tự soạn được một bộ sách giáo khoa. Nhưng họ vẫn quyết tâm thực hiện, vì để có chương trình giáo dục đó, người Nhật đã mất cả trăm năm cải biên từ cách đào tạo của giáo dục phương Tây phù hợp với đặc trưng châu Á, bắt đầu từ thời Minh Trị Thiên Hoàng. Để rút ngắn thời gian, chẳng có cách nào ngoài việc lấy kinh nghiệm của người khác, để còn lo việc khác nữa. Vì Hàn Quốc muốn trở thành một bản sao mới của Nhật, nền kinh tế dựa trên lòng tự hào dân tộc, tính kỷ luật và đạo đức của toàn thể xã hội.
Thứ Bảy, 25 tháng 10, 2014
Mốc thời gian các nước chiếm đóng các đảo, bãi ngầm ở QĐ Trường Sa
TL tham khảo: Xếp theo trình tự thời gian, do tính phức tạp trong tranh chấp chủ
quyền giữa các nước nên có thể sớm muộn hơn tùy nguồn. Tên viết tắt các
quốc gia: Việt Nam - VN, Trung Quốc - CN, Đài Loan - TW, Philippines -
PH, Malaysia - MY
TW: 1956 - Ba Bình (Itu Aba Island, 太平 島)
VN: 19/05/1963 - Trường Sa (Spratley Island)
VN: 24/05/1963 - Song Tử Tây (Southwest Cay)
VN: 1968-1973 - Sơn Ca (Sand Cay)
VN: 1968-1973 - Nam Yết (Nanyit Island)
VN: 1968-1973 - Sinh Tồn (Sin Cowe Island)
PH: 1970-1971 - Thị Tứ (Thitu Island, Pag-asa)
PH: 1970-1971 - Vĩnh Viễn (Nanshan Island, Lawak)
PH: 1971-1973 - Song Tử Đông (Northeast Cay, Parola)
PH: 1971-1973 - Loại Ta (Loaita Island, Kota)
PH: 1971-1973 - Bình Nguyên (Flat Island, Patag)
PH: 02/1978 - Bến Lạc (West York Island, Likas)
PH: 02/1978 - An Nhơn (Lankiam Cay, Panata)
VN: 05/03/1978 - Thuyền Chài (Barque Canada Reef)
PH: 1980 - Công Đo (Commodore Reef, Rizal)
MY: 06/1983 - Hoa Lau (Swallow Reef, Layang-Layang)
MY: 09/1983 - Kỳ Vân (Mariveles Reef, Mantanani)
MY: 09/1983 - Kiệu Ngựa (Ardasier Reef, Ubi)
VN:02/12/1987 - Đá Tây (West Reef)
PH: 1987 - Cá Nhám (Irving Reef, Balagtas)
MY: 1987 - Sác Lốt (Royal Charlotte Reef; Terumbu Samarang Barat Besar)
MY: 1987 - Suối Cát (Dallas Reef; Terumbu Laya)
CN: 22/01/1988 - Chữ Thập (Fiery Cross Reef, 永 暑 礁)
VN: 02/03/1988 - Núi Le (Cornwallis South Reef)
VN: 05/02/1988 - Đá Lát (Ladd Reef)
VN: 06/02/1988 - Đá Lớn (Discovery Great Reef)
VN: 19/02/1988 - Đá Đông (East Reef)
CN: 26/02/1988 - Ga Ven (Gaven Reef, 南薰 礁)
VN: 26/02/1988 - Tiên Nữ (Pigeon / Tennent Reef)
VN: 27/02/1988 - Tốc Tan (Allison Reef)
CN: 14/ 03/1988 - Gạc Ma (Johnson South Reef, 赤 瓜 礁)
VN: 14/03/1988 - Len Đao (Lansdowne Reef)
VN: 14/03/1988 - Cô Lin (Collins Reef)
VN: 15/03/1988 - Đá Thị (Petley Reef)
VN: 16/03/1988 - Đá Nam (South Reef)
CN: 03/1988 - Châu Viên (Cuarteron Reef, 华阳 礁)
CN: 03/1988 - Tư Nghĩa (Hughes Reef, 东门 礁)
CN: 03/1988 - Xu Bi ((Subi Reef, 渚 碧 礁)
CN: 1988 - Ken Nan (McKennan Reef)
TW: 1956 - Ba Bình (Itu Aba Island, 太平 島)
VN: 19/05/1963 - Trường Sa (Spratley Island)
VN: 24/05/1963 - Song Tử Tây (Southwest Cay)
VN: 1968-1973 - Sơn Ca (Sand Cay)
VN: 1968-1973 - Nam Yết (Nanyit Island)
VN: 1968-1973 - Sinh Tồn (Sin Cowe Island)
PH: 1970-1971 - Thị Tứ (Thitu Island, Pag-asa)
PH: 1970-1971 - Vĩnh Viễn (Nanshan Island, Lawak)
PH: 1971-1973 - Song Tử Đông (Northeast Cay, Parola)
PH: 1971-1973 - Loại Ta (Loaita Island, Kota)
PH: 1971-1973 - Bình Nguyên (Flat Island, Patag)
PH: 02/1978 - Bến Lạc (West York Island, Likas)
PH: 02/1978 - An Nhơn (Lankiam Cay, Panata)
VN: 05/03/1978 - Thuyền Chài (Barque Canada Reef)
VN: 10/03/1978 - An Bang (Amboyna Cay)
VN: 15/03/1978 - Sinh Tồn Đông (Sin Cowe East Island)
VN: 30/03/1978 - Phan Vinh (Pearson Reef)
VN: 04/04/1978 - Trường Sa Đông (Central Reef)
VN: 04/04/1978 - Trường Sa Đông (Central Reef)
PH: 1980 - Công Đo (Commodore Reef, Rizal)
MY: 06/1983 - Hoa Lau (Swallow Reef, Layang-Layang)
MY: 09/1983 - Kỳ Vân (Mariveles Reef, Mantanani)
MY: 09/1983 - Kiệu Ngựa (Ardasier Reef, Ubi)
VN:02/12/1987 - Đá Tây (West Reef)
PH: 1987 - Cá Nhám (Irving Reef, Balagtas)
MY: 1987 - Sác Lốt (Royal Charlotte Reef; Terumbu Samarang Barat Besar)
MY: 1987 - Suối Cát (Dallas Reef; Terumbu Laya)
VN: 05/02/1988 - Đá Lát (Ladd Reef)
VN: 06/02/1988 - Đá Lớn (Discovery Great Reef)
VN: 19/02/1988 - Đá Đông (East Reef)
CN: 26/02/1988 - Ga Ven (Gaven Reef, 南薰 礁)
VN: 26/02/1988 - Tiên Nữ (Pigeon / Tennent Reef)
VN: 27/02/1988 - Tốc Tan (Allison Reef)
CN: 14/ 03/1988 - Gạc Ma (Johnson South Reef, 赤 瓜 礁)
VN: 14/03/1988 - Len Đao (Lansdowne Reef)
VN: 14/03/1988 - Cô Lin (Collins Reef)
VN: 15/03/1988 - Đá Thị (Petley Reef)
VN: 16/03/1988 - Đá Nam (South Reef)
CN: 03/1988 - Châu Viên (Cuarteron Reef, 华阳 礁)
CN: 03/1988 - Tư Nghĩa (Hughes Reef, 东门 礁)
CN: 03/1988 - Xu Bi ((Subi Reef, 渚 碧 礁)
CN: 1988 - Ken Nan (McKennan Reef)
Có ai tốt với bạn TQ bằng Bộ trưởng Quốc phòng VN
Hàng trăm bài báo đã bình luận lên án động thái của Trung Quốc xây
dựng những bãi ngầm thành đảo nhân tạo, nổi cộm là Gạc Ma, rồi Chữ Thập
(ó diện tích rộng hơn đảo Ba Bình (đảo lớn nhất ở Trường Sa). Nhưng xem
đoạn trả lời báo chí dưới đây của ông Phùng Quang Thanh về chuyến thăm
TQ vừa rồi như một gáo nước lạnh dội vào báo chí và những ai quan tâm
đến quyền lợi đất nước, đang ngày đêm lo lắng trước ý đồ của TQ ra sức
thay đổi hiện trạng trên Biển Đông, đẩy nguy cơ xung đột khu vực ngày
càng lớn. Gáo nước lạnh ấy ánh thực tế trên Biển Đông nhưng phủ phàng
với lòng người Việt
Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh phát biểu
Thợ Cạo từng là lính, tháng 6 giữa năm đã bức xúc trước phát biểu của ông PQT ở Shangri-La , lần này nữa thì "thâu rầu lượm ơi!" thất vọng hoàn toàn với người đứng đầu toàn quân. Ở nhiều nước: giới quân đội thường là "diều hâu hiếu chiến", sự mềm mỏng dành cho giới ngoại giao thì ngược lại ở Việt Nam, đại tướng dẫn đường lại là "bồ câu hòa bình", tôi không tin ông "nói dzậy chứ không phải dzậy". TC có mấy lời bình:
Theo Thanhnien - Cái mà dư luận quan tâm là cuộc gặp giữa hai đoàn quân sự cao cấp Việt - Trung, mang lại kết quả gì, thì có ai như ông lại khoe nghi thức ngoại giao - xem như một thắng lợi: "Bạn đón tiếp ta rất nhiệt tình, trọng thị, chu đáo và rất hữu nghị..."
Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh phát biểu
Thợ Cạo từng là lính, tháng 6 giữa năm đã bức xúc trước phát biểu của ông PQT ở Shangri-La , lần này nữa thì "thâu rầu lượm ơi!" thất vọng hoàn toàn với người đứng đầu toàn quân. Ở nhiều nước: giới quân đội thường là "diều hâu hiếu chiến", sự mềm mỏng dành cho giới ngoại giao thì ngược lại ở Việt Nam, đại tướng dẫn đường lại là "bồ câu hòa bình", tôi không tin ông "nói dzậy chứ không phải dzậy". TC có mấy lời bình:
Theo Thanhnien - Cái mà dư luận quan tâm là cuộc gặp giữa hai đoàn quân sự cao cấp Việt - Trung, mang lại kết quả gì, thì có ai như ông lại khoe nghi thức ngoại giao - xem như một thắng lợi: "Bạn đón tiếp ta rất nhiệt tình, trọng thị, chu đáo và rất hữu nghị..."
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)
