Tim thông tin blog này:

Thứ Sáu, 30 tháng 7, 2021

Dân thì đè đầu ra phạt còn quan để lây nhiễm chéo thì sao, cái nào hệ trọng hơn?

Theo số liệu tổng hợp của Bộ Y tế:
Ngày 18/07 có 2.828 ca mắc mới, trong đó có 2.108 ca được phát hiện trong khu cách ly hoặc khu đã được phong toả.
Ngày 19/7 có 4.195 ca mắc mới, trong đó có 3.678 ca được phát hiện trong khu cách ly hoặc khu đã được phong toả.
Bộ Y tế chưa làm làm rõ trong khu cách ly tập trung chuyên nghiệp do Nhà nước tổ chức có số ca nhiễm mới là bao nhiêu?
Không phải chuyên môn nên tôi dám phân tích nhưng hiểu đơn giản đó là lây nhiễm chéo, người với trong khu vực đó. Mà số người bị nhiễm Covid chiếm phần lớn, đến 82%.
Hiểu rằng quản lý khu cách ly phong toả không hề dễ nhưng Chính quyền đã đề ra biện pháp bảo vệ dân đồng thời làm ảnh hưởng lớn đến đời sống người dân thì phải làm bằng được. Không chấn chỉnh thì để "phá sản" kế hoạch mục đích phòng địch thì "lợi bất cập hại".
Có khen thì phải có phạt.
Chính quyền đã phát động phong trào thi đua khen thưởng gương điển hình phòng chống Dịch nhưng trên địa bàn, nơi tập trung để xảy ra lây nhiễm nhiều thì không thấy có cán bộ nào bị nêu tên chịu trách nhiệm và hình thức kỷ luật ra sao.

Bình Dương ứng xử với dân, khác với Sài Gòn và các tỉnh.

Lưu ý chỉ là nơi mình biết vào sáng nay khi qua các chốt kiểm soát trong tâm vùng dịch BD.
Cách một ngày trước, Tỉnh BD chỉ đạo cách ly 3 thành phố và 1 thị xã, hạn chế người di chuyển ra vào giữa các khu vực. Mình có việc cần gấp nên xách xe máy đi, mang theo giấy tờ cá nhân và giấy giới thiệu của công ty.
Nhìn phố xá vắng tanh, ngoài đường xe lớn, xe nhỏ chạy không nhiều. Các chốt kiểm sát bố trí nhiều hơn gấp mấy lần so với thời gian đầu thực hiện CT 16. Hầu như đường nào cũng có chốt, cái thì chặn chính người vô, cái thì chặn người ra. Thấy không có tình trạng xe xếp hàng nối đuôi, người dừng trước chốt chừng 5, 7 người để trình bày lý do đi lại. Nhìn dáng vẻ, hầu hết đi vì công chuyện là chính. Hợp lý thì chốt cho qua, không thì phải quay đầu xe (đoán có người đi về luôn nhưng cũng có người tìm đường khác mà lách).

Mình ba lượt chạy xe qua lại mấy tuyến đường và chục lần qua chốt kiểm soát trong khu vực giữa hai thành phố. Có chốt thì yêu cầu phải có giấy xét nghiệm âm tính còn đa phần không đòi hỏi (vì coi như đi trong nội bộ khu vực cách ly). Không thấy có chốt nào tập trung đông người, không nghe lớn tiếng năn nỉ, cải cọ. Không dừng lại lâu, chỉ đoán thôi - không có chuyện phạt nên mới thế. Trước tình hình dịch rất căng nhưng Bình Dương ứng xử dễ chịu với dân (ít nhất là nơi mình chứng kiến). Ai thì không biết, riêng mình kể từ khi dịch bùng phát đợt bốn tới giờ, chả gặp khó khăn gì lớn gây ức chế tâm lý.

Cán bộ lãnh đạo, chỉ huy xưa và nay?

Cho đến thời TC là lớp kế thừa đi bộ đội còn chứng kiến.
Đa phần lãnh đạo, chỉ huy học vấn tuy thấp nhưng họ chịu khó học hỏi, rèn luyện ở trường đời nên đa phần chữ viết tay, nhìn đẹp và cứng cáp. Họp hành thì có khi bàn cãi gay gắt nhưng đã thống nhất rồi thì phải chấp hành nghiêm túc Lối sống sinh hoạt thực lòng gương mẫu để cấp dưới noi gương. Khác với ngày nay, cấp trên sống xa hoa thì cấp dưới bắt chước theo, trách ai. Chỉ huy thời ấy ra lệnh lạc ngắn gọn, nói ít làm nhiều. Ra một chỉ lệnh hay văn bản, không dài, ý tứ chọn lọc kỹ càng. Còn ngày nay, nói nhiều làm ít. Hầu hết văn bản dài dòng, lôm côm, dễ hiểu nhầm sang khác ý, chưa nói đến quy tắc, lỗi chính tả. Bị người ngoài trên mạng có am hiểu chê cười. Ngày xưa các sếp chọn trợ lý hầu hết giỏi về lãnh vực của mình, tham mưu ra tham mưu, chính trị ra chính trị, là chỗ dựa tin cậy cho lãnh đạo chỉ huy.
Lãnh đạo chỉ huy ngày nay có xu hướng sính dùng những từ hoa mỹ, đao to búa lớn. Quản trị xã hội thời hiện đại nhưng thích vận dụng phương pháp trong chiến tranh và dùng thuật ngữ quân sự để lên gân. Trong khi bản thân chưa biết mùi thuốc súng và cái giá phải trả cho nó là gì.
Ngày xưa, ngay cả khi chiến thắng, mình cũng chưa thấy chỉ huy nào tự mãn, ngạo nghễ kiêu căng như ngày nay.
Thế còn thời VNCH thì sao?
Ai có xem clip chỉ hơn 1 giờ đồng hồ của TT Nguyễn văn Thiệu trả lời trước truy vấn của những "chiến hữu" kết án ông về việc "Di tản chiến thuật" và bỏ nước ra đi. Không bàn nội dung đúng sai, chỉ nói ông đã trả lời điềm tỉnh, ngắn gọn mạch lạc rất xứng danh một Tổng thống kiêm Tổng Tư lệnh QĐ.
Dẫn lại Stt đã đăng về cảm nhận của TC qua thư viết tay (không qua phụ tá) của cựu và đương kiêm tổng thống VNCH thời điểm 25.4.1975.
Trao đổi qua lại giữa hai ông thực chất nó là một sự dàn xếp để ông Nguyễn Văn Thiệu ra đi với danh chính ngôn thuận. Tuy trong lúc dầu sôi lửa bỏng nhưng hai ông vẫn tuân thủ pháp quyền và hành xử đâu ra đó, lịch sự lễ phép của người có học với nhau. Một chi tiết đáng lưu ý là cách dùng từ "cựu" và "nguyên" rất hay của TT Trần Văn Hương.
Nội dung:
Kính trình Tổng thống Trần Văn Hương,
Thưa Cụ,
Ðể thực hiện công tác cụ giao phó, tôi kính xin cụ chấp thuận cho những sĩ quan sau đây gọi là thành phần tối thiểu cần thiết để giúp tôi, đi theo tôi trong suốt thời gian công du:
1. Ðại tá Võ Văn Cầm
2. Ðại tá Nguyễn Văn Ðức
3. Ðại tá Nhan Văn Thiệt
4. Ðại tá Trần Thanh Ðiền
5.Trung tá Tôn Thất Ái Chiêu
6. Bs Thiếu tá Hồ Vương Minh
7. Ðại úy Nguyễn Phú Hải (giờ chót không có mặt)
8. Phục dịch viên Nghị (giờ chót không có mặt)
Ngoài ra, Cựu Thủ tướng Ðại tướng Trần Thiện Khiêm cũng cần đem theo những sĩ quan và dân sự sau đây:
1. Trung tá Ðặng Văn Châu
2. Thiếu tá Ðinh Sơn Thông
3. Thiếu tá Nguyễn Tấn Phận
4. Ông Ðặng Vũ (giờ chót không có mặt)
Ðại tướng Trần Thiện Khiêm nhờ tôi trình cụ chấp thuận ./.
Kính chào Tổng thống
(ký tên Thiệu)
Tổng thống Trần Văn Hương phê thuận,
Ðề ngày 25/4/75
Và ký tên Trần Văn Hương
*******
Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Trần Văn Hương
Quyết định
1 – Nay đề cử cựu Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và cựu Thủ tướng Trần Thiện Khiêm đại diện Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa đến Ðài Bắc để phân ưu cùng Chánh phủ và Nhân dân Trung Hoa dân quốc nhân dịp Tổng thống Tưởng Giới Thạch tạ thế.
2 – Sau đó hai vị trên được đề cử tiếp tục viếng thăm các quốc gia trên thế giới xét cần thiết trong vòng 6 tháng để làm sáng tỏ thiện chí hòa bình của Việt Nam Cộng Hòa đồng thời vận động các Chánh phủ và nhân dân các quốc gia đó hỗ trợ lập trường hòa bình của Chánh phủ và nhân dân ta.
Chương trình thăm viếng sẽ do hai vị tùy nghi quyết định thể theo sự thuận lợi của tình hình đối với các quốc gia đó.
3 – Yêu cầu Bộ Ngoại giao chỉ thị các Tòa Ðại sứ Việt Nam Cộng Hòa yểm trợ cần thiết để nguyên Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và nguyên Thủ tướng Trần Thiện Khiêm cùng phái đoàn chu toàn nhiệm vụ giao phó.
4 – Chi phí công tác do Bộ Ngoại giao và Bộ Quốc phòng đài thọ trong khuôn khổ được luật lệ ấn định. (Tổng thống Hương viết thêm hàng chữ: trong khuôn khổ được luật lệ ấn định).
Sài-gòn, ngày 25 tháng 04, 1975
(ký tên Hương)
Nguồn: Namrom64




TQ dập dịch cách nào, sao VN chưa thành công?

Không ít người quan tâm thắc mắc, bạn Hà Vũ Hiển đặt vấn đề:

"Các phương tiện truyền thông đang đưa tin số người mắc Cúm Tàu nhất là biến chủng Delta tăng vùn vụt trên khắp thế giới nhưng lại không thấy số liệu của Trung Quốc? Hay là Trung Quốc đã miễn dịch?Sau giai đoạn đầu, TQ đã chặn dịch sớm và nhanh, đáng để ta suy nghĩ. Khi chưa có TT thì tạm theo thuyết âm mịu. Anh nghi nghi TQ có cách chặn dịch mà không công bố, kể cả đàn em VN để mặc cả và làm cái thang leo ngôi bá chủ. Còn Phương Tây thì kiêu hảnh chẳng hạ mình. Chờ xem.".
Tôi nghĩ thời gian đầu có thể TQ che dấu dịch Covid-19 nhưng sau đó họ chặn được không cần chia sẻ số liệu với thế giới. TQ đã dập được dịch ở một đất nước rộng với 1,4 tỷ dân, thật đáng nể. Nhưng cái trịch thương, muốn chứng tỏ ta đây là cường quốc số 1 thế giới, đáng chê trách. Có bí quyết gì chăng, thuốc điều trị, vaccine chất lượng cao hay biện pháp phòng chống dịch? Tôi nghĩ không, vì có gì bí mật khi phải triển khai thuốc men và biện pháp đến số dân đông như vậy. Ở TQ vẫn có cơ quan đại diện của các quốc gia khác, vẫn có hàng triệu người mang các quốc tịch khác nhau ở đó. Không lý giải được thì dựa vào thuyết âm mưu trên trời dưới biển, chỉ đi vào ngõ cụt.
Tôi không biết VN có học TQ không? Nhưng coi người nhiễm như là bệnh nhân là đã sai từ gốc. Từ đó triển khai biện pháp cách ly đại trà là thiếu thực tế, TQ thì có đủ tài lực để làm việc đó. Ngoài cái chung thì mỗi nước có hoàn cảnh, đặc thù riêng, nước nghèo không thể ôm đồm bao căn. Gần đây, chính phủ có chủ trương đưa người các tỉnh có nguyện vọng về quê, mình coi đây là một sáng kiến rất đúng và kịp thời trước khi quá muộn. Bài học thương đau đã có. Để dịch lây nhiễm rộng ra cộng đồng là hoàn toàn thuộc về trách nhiệm của chính quyền địa phương. Dành 21 ngày để sàng lọc, nếu không làm được, tôi mà là thủ tướng thì cách chức ngay chủ tịch nơi đó mà không cần phải xem xét...

Một trong những người thảnh thơi nhất lúc này

là Đại úy Nguyễn Văn Minh, đang chỉ huy 3.000 lính vịt đẻ tại mặt trận sông nước Long An.
Cùng quê, mình ở Hòa Quang, bạn ở Hòa Trị - Tuy Hòa, cả hai đi bộ đội cùng ngày, cùng sang CPC, khi về cùng cấp. Bạn ra quân về chở vợ đi bán cá nuôi con, rồi chuyển sang chăn vịt thuê khắp nơi, chủ điều đâu đi đó.
Mới đây, giữa dịch người, đàn vịt chuyển từ Lâm Đồng xuống Vĩnh Hưng - LA. Mình hỏi thăm mua trứng, bạn bảo thiếu gì, tao nói chủ một tiếng thì năm ba chục trứng, đâu là gì. Qua dịch xuống chơi nghen, ngủ giữa đồng, hai đứa bắt con vịt nhậu lai rai tâm sự.
Dứt phát, mình sẽ đi để biết cái thú giữa đồng không mông quạnh là thế nào.



Bài thông chốt của lão giả nai.

Biết tình hình là không nói nhiều, SG thì phạt, BD thì hốt. Mấy con ngựa non háu đá gặp thiên lôi thì kể như xong phim.
Lệ thường lão hay lý sự cùn, nay lễ phép phải biết ca bài ca con cá lóc.!
Này nhé:
Thay chiếc wave Tầu bằng chiếc tay ga. Chạy còn cách chốt 5 mét, lịch sự dừng lại, tắt máy xuống xe, bỏ kính đen ra, rút mấy lá bùa chuẩn bị. Chững chạc đàng hoàng như cán bộ í chứ không nó bắt nọn, bảo đi trộm gà thì bỏ mẹ.
Bước tới.
Bác đi đâu?
- Dạ. Đi mua đồ cho xưởng SX 3 tại chỗ, anh em tự cách ly hết, chỉ mỗi tui chạy vòng ngoài hổ trợ.
Rút túi ra thêm mớ giấy nữa, chứng minh là người đi vì công chuyện chứ không giả danh.
Chú gác lật tới lật lui, coi không biết đâu mà lần, hỏi tiếp:
Phiếu xét nghiệm đâu?
- Dạ. Xét nghiệm âm tính ngon lành nhưng khu phố đâu có đưa giấy đâu mà trình mấy chú.
Bên thành phố này dịch nhiều, nguy hiểm hơn bên thành phố kia, không giấy không vô được.
- Dạ. Bên nào cũng cách ly như nhau mà (lại ngứa mỏ).
Không nói nhiều, không giấy thì quay lại.
- Dạ. Tui già cũng sợ chết thấy pà, trách nhiệm cũng như mấy chú. Vì miếng cơm chứ ai muốn đi giờ này, xét nghiệm thì tốn 300 chủ đâu có chịu.
Rút kinh nghiệm, phải đủ giấy tờ nghen, thôi bác đi.
- Dạ. dạ. Cảm ơn mấy chú thông cảm.
Chuyện cách đây một tuần, giờ 16++ mà phải đi nữa thì có xâm mình, uống mật gấu cũng mếu như thường. Công ty phải trả tiền bảo hiểm nhân thọ cho lão, hoạ may.
P/S gõ thêm ít dòng cho trọn chiện thông chốt.
Thật ra, lão từ chối không đi cũng không sao vì địa phương đang phong toả gắt. Nhưng do máu bộ đội vẫn còn, bất kỳ việc gì trên giao cũng ráng hoàn thành. Mặt khác tính lão hay tò mò, thử thách bản thân để biết: cách gì mà tụi ship hàng (không chuyên) đi được trong khi đa số không có giấy xét nghiệm.
Từ nơi ở đến chỗ giao dịch, rồi đến công ty. Đoạn đường thẳng rồi quẹo qua quẹo lại chừng 8 cây số nhưng phải qua 4 chốt, nơi này hơi dễ thì nơi khác khó. Có chốt dứt khoát không cho qua, thì biết năn nỉ vô ích nên quay đầu xe tìm hẻm nhỏ mà vòng lách. Biết chắc lực lượng kiểm soát không thể bít hết được mọi ngã đường, không thể dăng dây tất cả mọi nơi. Người ta nói "không gì là không thể", vấn đề là cái giá phải trả mà thôi.
Từ mình mà đoán ra đám shipper: họ để ý chiều nào chốt chặn là chính nên đi đường này thì về đường khác hoặc chịu khó đi vòng vèo. Các chốt dân quân, dân phòng dễ qua hơn có CSGT, 113. Trên xe có hàng hoá cồng kềnh càng dễ thông hơn xe chạy không. Đặt mình vào vị trí của nhân viên thừa hành công vụ thì đỡ ức chế tâm lý (nếu mình cho là họ bắt sai). Họ như con cháu mình, hầu hết gốc gác là con em lao động nên ít nhiều dễ thông cảm nhau.

"Bắn , không bắn".

Vũ Trung

- Tại đây nơi ngã ba Chhaeb ( Chép ) tháng 3.84 Trung đoàn 143 hành quân từ Tha La đi tham gia chiến dịch M1
- đ/đ c13 Ngô Đình Minh của tôi đã hy sinh tại đây vào đêm trời trăng sáng , khoảng hơn 22h sau trận tập kích bất ngờ vội vã của địch bằng hơn 30 quả cối 60 ly rất chính xác nổ trước mỗi căn nhà chúng tôi ở 2 quả , toàn trung đoàn bộ và đoàn 5504 ở Chép không trở tay kịp . Đêm đó vì tính nhân văn bằng tình người , người dân hay địch trỗi dậy trong tầm suy nghĩ của tôi " Bắn , không bắn " , tôi đã quyết định không nã cối 82 vào làng Chép , tối đó làng Chép có lễ hội đang ramvong , khi địch tập kích tiếng trống ramvong càng nỗi lớn , lớn hơn như vui mừng khi biết chúng tôi bị tập kích , lúc này vì chưa kịp biết đ/đ Minh hy sinh và anh Tình đại đôi trưởng bị thương , rất tiếc và thật may mắn nếu đêm đó chúng tôi bắn cấp tập vào làng thì.... ? Đây là câu chuyện rất thật trong đời lính của tôi.
- Đêm đó và giờ đây tôi đã hiểu nhiều hơn may mắn mình là người có quyết định chính xác không bắn vào làng . 4h sáng hôm sau Ngô Đình Minh mất trong lòng vòng tay của đ/đ trung đội trưởng Nguyễn Vinh . Lòng uất hận sao lúc đó mình không bắn , ảnh mất tội nghiệp quá gói hàng bên nước của vợ con gởi vừa nhận hôm qua chưa kip ....! 7h sáng đoàn quân vẫn bước tiến.
- Sau 34 năm tìm về lại nơi dừng quân của ngày đó , thay mặt đ/đ một điếu thuốc một nén nhang cho anh.



Ngẫm chiện bố trí quân ở Đông Bắc CPC.

Quân từng tỉnh đội VN đưa sang đứng chân mỗi tỉnh bên í, mờ sao chọn trấn ở tỉnh này mà không phải tỉnh nọ? - Tám chơi, biết đâu là thật.
- Đoàn 5501 Nghĩa Bình bình địa ở Ratanakiri giữ con đường huyết mạch, tiền tuyến với hậu phương.
- Đoàn 5502 Phú Khánh kệ nẫu thủ thân nên cho ở Mondolkiri, biệt lâp chả cần phải đào ngũ làm gì..
- Đoàn 5503 QN-ĐN hay cãi nhưng chấp hành nghiêm, ở tỉnh Stung Treng bảo vệ não bộ Tiền phương QK5.
- Đoàn 5504 Thuận Hải Chăm lỳ đòn, đẩy lên trấn ải tuốt Preah Vihear biên giới, bể mình cũng hết đường đào ngũ.
Hổng biết trúng ý không nhưng mấy ông Trên tầm nhìn xa trăm dặm, cân nhắc kỹ lắm đấy.



Ngày 27/7, tôi nghĩ gì.

Giữa thời bình, chưa biết cái giá của mùi thuốc súng nhưng người ta thích chém gió, thích dùng thuật ngũ quân sự đao to búa lớn. Họ có biết phía sau ngày 27/7 là ký ức đau thương, kinh khủng, không bao giờ quên của người lính ở chiến trường K.
Có khi hành quân truy quét, trong lúc đánh nhau hay bị mìn, có đồng đội hy sinh. Để lại lấp dọc đường thì sợ sau này không tìm lại nơi chôn tạm. Cho nên phân đội thay nhau võng xác chết đi cùng. Qua bụi rậm, leo đồi vượt suối, tuột lên tuột xuống. Xác chết phân huỷ dần, đụng vào võng, giòi bọ rơi lã chả. Mùi hôi thúi bốc lên kinh khủng, nôn thốc nôn tháo. Ngày này qua ngày khác theo bước hành quân...
Có trường hợp phải buột dây vào chân tử sĩ mà lôi ra nơi an toàn vì sợ địch gài mìn bên dưới. Không bỏ nhau dù sống hay chết nên có có khi kéo theo thương vong tiếp, cái giá phải trả vô cùng đắc. Cõng gạo, dận dược lên tuyến trước thì võng thương binh, tử sĩ về tuyến sau...
Về đến đơn vị, bới bát cơm, thắp cây nhang, lẩm rẩm khấn: mày sống khôn thác thiêng... Để xác chết xa chỗ ngủ, cho đỡ bớt mùi khẳm thúi. Cắt người canh gác để chó sói không vào ăn thịt thi thể. Ngồi một mình bên cạnh đồng đôi thân yêu ngày nào mà lạnh xương sống, nuôi hy vọng: lỡ mình có bị cũng được anh em đối xử như vậy...
Có trường hợp phải chôn tạm tại chỗ ở nghĩa trang đơn vị, có trường đưa xác về đất mẹ. Người sống cần đi công tác hay về nước phải quá giang người chết. Người sống và người chết cùng một chuyến xe. Trệu trạo nuốt miếng cơm đỡ đói, bịt mũi ngồi vật vạ trông mau đến chỗ...
Cái chết, đeo đuổi tới cùng. Về làm dân, bỏ lại súng đạn sau lưng nhưng chiến tranh vẫn còn hiện hữu trong giấc ngủ. Súng nổ, trúng mìn, đồng đội chết. Tỉnh giấc, mồ hôi đầm đìa. Sờ tay chân nguyên vẹn, mừng quá, hoá ra mình còn sống. Lại nhớ thằng nọ, thằng kia...







Chủ Nhật, 4 tháng 4, 2021

Từ phủ lỵ Tuy Hòa đến TP Tuy Hòa

 Năm 1471, vua Lê Thánh Tôn thân chinh mở đất về phương Nam, lấy núi Đá Bia (Thạch Bi Sơn) phân định ranh giới Việt - Chiêm.

 

Trên thực tế, vua Lê Thánh Tôn chỉ đặt phủ huyện và bộ máy quản lý ở phía bắc đèo Cù Mông. Từ Cù Mông đến Đá Bia là vùng đấtki-mi (ràng buộc lỏng lẻo), được nhà vua đặt một tiểu quốc vùng phên dậu gọi là Hoa Anh quốc do cư dân bản địa tự cai quản.

 

Năm Mậu Dần (1578), chúa Nguyễn Hoàng cử Phù nghĩa hầu Lương Văn Chánh làm trấn biên quan, chiêu mộ lưu dân (người nghèo không sản nghiệp) khai hoang lập ấp từ chân đèo Cù Mông đến châu thổ sông Đà Rằng.

 

Sau 33 năm khai khẩn vùng đất mới, hình thành làng mạc, vùng đất từ đèo Cù Mông đến Đá Bia đủ điều kiện hình thành một đơn vị hành chính mới. Năm 1611, chúa Nguyễn Hoàng thành lập phủ Phú Yên (trực thuộc thừa tuyên Quảng Nam, đơn vị hành chính cấp tỉnh; cả nước lúc ấy có 13 thừa tuyên) gồm hai huyện Đồng Xuân (từ đèo Cù Mông đến phía bắc sông Đà Rằng) và Tuy Hòa (từ phía nam sông Đà Rằng đến núi Đá Bia).

 

Năm 1629, chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên nâng cấp phủ Phú Yên thành dinh Trấn Biên (đơn vị hành chính cấp tỉnh). Thời điểm ấy, cả xứ Đàng Trong thuộc quyền quản lý của chúa Nguyễn từ Hoành Sơn (đèo Ngang) đến Thạch Bi Sơn (núi Đá Bia) có 7 dinh. Năm 1899 (năm Thành Thái 11), huyện Tuy Hòa được nâng lên thành phủ Tuy Hòa gồm tổng Hòa Bình (phía bắc sông Đà Rằng, được tách ra từ huyện Đồng Xuân) và các tổng phía nam sông Đà Rằng là Hòa Đa, Hòa Mỹ, Hòa Lạc.

 

Năm 1900, 12 làng của tổng Sơn Tường thuộc huyện Sơn Hòa được sáp nhập vào phủ Tuy Hòa có tên là tổng Hòa Tường. Năm 1908, phủ Tuy Hòa lập thêm hai tổng mới phía nam sông Đà Rằng là tổng Hòa Đồng và tổng Hòa Lạc.

 

Phủ lỵ Tuy Hòa lúc đầu đóng ở làng Phú Thứ (nay là thị trấn Phú Thứ, huyện Tây Hòa). Năm 1841, phủ lỵ Tuy Hòa dời đến làng Đông Phước (ngày nay thuộc xã Hòa An, huyện Phú Hòa).

 

Năm 1951, phủ lỵ Tuy Hòa chuyển về làng Năng Tịnh (ngày nay là các phường 1, 2, 3, TP Tuy Hòa). Chỉ một thời gian ngắn, phủ lỵ Tuy Hòa được mở rộng ra các làng Bình An, An Tịnh, Bình Mỹ, Phú Câu, Ngọc Lãng.

 

Phủ lỵ Tuy Hòa được gọi là Dinh. Con sông cũ chạy trong lòng phủ lỵ (nay đã bị bồi lấp hoàn toàn) gọi là sông Dinh, chợ ở phủ lỵ Tuy Hòa gọi là chợ Dinh.

 

Trước Cách mạng Tháng Tám, phủ lỵ Tuy Hòa là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa phía nam tỉnh. Ngoài bộ máy cai trị của Nam triều (triều đình Huế), thực dân Pháp có đồn cảnh sát quản lý trật tự đô thị. Thực dân Pháp còn xây dựng nhà máy đèn (nhà máy điện), băng-ga-lô, xưởng rượu và một số công trình khác.

 

Cách mạng Tháng Tám thành công. Cuối năm 1945, chính quyền cách mạng Phú Yên chuyển tỉnh lỵ từ Sông Cầu vào Tuy Hòa. Trong kháng chiến chống Pháp, có lúc TX Tuy Hòa được đặt tên là xã Hòa An trực thuộc huyện Tuy Hòa.

 

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, chính quyền Sài Gòn tiếp tục chọn TX Tuy Hòa là tỉnh lỵ với tên gọi là xã Châu Thành gồm các ấp Bình Nhạn (nay là phường 1), Bình Tịnh (nay là phường 2, phường 8), Bình An (nay là phường 3), Bình Mỹ (nay là phường 4), Bình Hòa (nay là phường 5, phường 7), Bình Lợi (nay là phường 6).

 

Trước giải phóng, TX Tuy Hòa (xã Châu Thành) chỉ có 6 con đường trục dọc là Tản Đà, Trần Hưng Đạo, Lê Thánh Tôn, Lê Lợi, Lý Thường Kiệt (có tên trong quy hoạch, chưa hình thành trên thực tế), Nguyễn Huệ. Người dân quen gọi đường Nguyễn Huệ là đường số 6. Chế độ cũ xây dựng 3 khu công chức ở đường Nguyễn Huệ (phía đông đường Phan Đình Phùng), khu vực Trường Nguyễn Huệ (các đường Lê Quý Đôn, Trần Cao Vân, Hoàng Diệu…) và nhà 18 gian ở quốc lộ 1 (nay là phường 2, đoạn phía nam Trường Thánh Giu-Se). TX Tuy Hòa chỉ có nhà máy đèn, không có hệ thống cấp thoát nước.

 

Về phía chính quyền cách mạng, cuối năm 1956, Tỉnh ủy Phú Yên thành lập huyện Tuy Hòa 2 (tương ứng với huyện Phú Hòa và TP Tuy Hòa ngày nay).

 

Tháng 3/1965, Tỉnh ủy thành lập C6 - đơn vị tiền thân của Thị ủy Tuy Hòa. Ngày 6/8/1965, Tỉnh ủy thành lập Thị ủy Tuy Hòa chỉ đạo 6 phường nội thị và các xã Bình Phú A, Bình Phú B, Bình Phú C (nay là phường 9 và xã Bình Kiến).

 

Sau ngày giải phóng, chính quyền cách mạng chọn TX Tuy Hòa là tỉnh lỵ gồm các phường 1, 2, 3, 4, 5, 6 và hai xã Bình Phú, Bình Ngọc.


Ngày 3/11/1975, Phú Yên sáp nhập với Khánh Hòa thành tỉnh Phú Khánh. Ngày 10/3/1977, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định 49CP hợp nhất huyện Tuy Hòa và TX Tuy Hòa thành huyện Tuy Hòa. Xã Bình Phú sáp nhập với xã Hòa Kiến thành xã Bình Kiến. Ngày 22/9/1978, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định 241/CP tách huyện Tuy Hòa thành hai huyện Tuy Hòa và TX Tuy Hòa. TX Tuy Hòa gồm 6 phường nội thị và hai xã Bình Kiến, Bình Ngọc.

 

Ngày 5/9/1981, Hội đồng Bộ trưởng (Chính phủ) ban hành Quyết định 487/HĐBT sáp nhập các xã phía bắc sông Đà Rằng thuộc huyện Tuy Hòa (Hòa Trị, Hòa An, Hòa Thắng, Hòa Định, Hòa Quang, Hòa Hội) trực thuộc TX Tuy Hòa.

 

Sau ngày tái lập tỉnh (1/7/1989), TX Tuy Hòa là thủ phủ tỉnh lỵ Phú Yên. Ngày 30/9/1991, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định 100/HĐBT chia xã Bình Kiến thành hai xã Bình Kiến và Hòa Kiến.

 

Ngày 28/4/1999, Chính phủ ban hành Nghị định 31/1999/NĐ-CP chia phường 2, TX Tuy Hòa thành phường 2 và phường 8, chia phường 5 thành phường 5 và phường 7.

 

Ngày 31/1/2002, Chính phủ ban hành Nghị định 15/2002/NĐ-CP chia TX Tuy Hòa thành hai đơn vị hành chính là TX Tuy Hòa và huyện Phú Hòa. TX Tuy Hòa có 8 phường và 3 xã Bình Ngọc, Bình Kiến và Hòa Kiến.

 

Ngày 20/8/2003, Chính phủ ban hành Nghị định 95/2003/CP thành lập phường 9, TX Tuy Hòa (tách ra từ xã Bình Kiến).

 

Ngày 5/1/2005, Chính phủ ban hành Nghị định 03/2005/NĐ-CP thành lập TP Tuy Hòa, sáp nhập thị trấn Phú Lâm (thuộc huyện Tuy Hòa) và xã An Phú (thuộc huyện Tuy An) vào TP Tuy Hòa. Sau đó, Chính phủ có Nghị định 175/NĐ-CP ngày 3/12/2007 chia thị trấn Phú Lâm thành 3 phường Phú Lâm, Phú Thạnh, Phú Đông.

 

Hiện nay, TP Tuy Hòa là đô thị loại 2 có 12 phường (1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, Phú Lâm, Phú Thạnh, Phú Đông) và 4 xã (Bình Kiến, Hòa Kiến, Bình Ngọc, An Phú).

 

PHAN THANH

Baophuyen

Tìm kiếm Blog này