Tim thông tin blog này:

Thứ Năm, 12 tháng 3, 2020

Trầm hương - truyện ngắn của Nguyễn Trí

Tìm trầm, dân chuyên nghiệp gọi lóng là đi “địu”. Địu là gì? Tại sao phải gọi muối là “diêm” và gạo là “mễ’’? Tại sao phải gọi “xuôi” hoặc “ngược” ngàn mà không gọi đi - về? Điều nầy thuộc bí ẩn của rừng xanh núi bạc. Muốn đi địu, tiêu chuẩn đầu tiên là ít nhiều biết võ, nếu không muốn nói là phải giỏi.
 Đã lên rừng - rừng cao - phản xạ không nhanh, tai mắt không tinh tường rất dễ bỏ thây lại cao xanh. Thâm u có nghìn vạn hiểm nguy không lường nổi. Hùm, beo, rắn, rết luôn chực chờ trên lối đi qua. Sự nhanh nhẹn là một tất yếu không thể thiếu, nó giúp ta lên đỉnh cao nhanh hơn. Len lỏi cả ngày trong mịt mùng không chấp nhận sự chậm chạp. Chỉ có người giỏi võ mới đương đầu được với “nghìn thước lên cao, nghìn thước xuống” và “khúc khuỷu dốc thăm thẳm”. Tìm trầm, một bầu trong con số bốn người chỉ đi, đi và đi. Dừng chân trong một điếu thuốc rê quấn kèn là hết. Giỏi võ còn giúp ta chống lại sơn tặc. Rừng cũng như biển, mạnh được yếu thua. Những giang hồ máu lạnh phục dân địu trên đường về lột sạch cả dó kiến, nói chi đến kỳ. Không giỏi võ, đừng có lên đường.




Minh họa của Thanh Huyền
Tiêu chuẩn kế tiếp, phải là một nghệ nhân trong nghệ thuật cầm rìu. Búa rìu làm gì mà đưa lên hàng nghệ thuật dữ vậy? Xin đừng tưởng vôi - vữa và chàng - đục mới là nghệ thuật. Đừng nhầm búa như rìu. Thiên hạ thuận miệng nói búa rìu nầy nọ, con em cứ thế mà theo. Dân phố xá, có người cả đời chưa biết cái rìu toàn vẹn ra sao. Ai cũng nghĩ công dụng của nó chặt chém là hết phép.
 Để có một cái cối giã gạo, có tai, có họng, muốn có một bộ cây cất nhà phải dùng rìu để đẽo. Người thợ rèn có thể dùng thép bất kỳ để tạo hình búa, nhưng rìu phải được tạo từ thép cực tốt, tôi đi tôi lại cả chục lần, bao nhiêu tạp chất được lửa đốt cháy sạch. Một lưỡi rìu tốt chỉ cần phớt vài đường trên đá mài là cạo râu ngọt hơn dao cạo. Lưỡi rìu dài mười lăm, ngang bốn phân, thợ rèn khoét một rãnh ba phân, dài mười phân và tra vào đó một tay lái. Tay lái phải là một gốc mây song càng già càng tốt. Cán rìu được làm bằng gỗ của cây rỏi, một loại cây vừa dẻo vừa dai, người đóng ghe tàu đi biển dùng nó làm chốt gài mộng thế cho đinh hoặc bù loong thép. Hoàn tất, rìu sẽ giống như cái nỏ của người dân tộc nhưng chỉ có một cánh.
 Muốn cầm được lưỡi rìu phải tập, đâu như búa ai cũng sử dụng được. Lơ mơ không tập, rìu ăn vô chân đứt cả gân là chuyện thường. Chỉ cầm thôi đã khó, nên để đẽo được là một quá trình lâu dài. Một bộ cây từ cột, kèo, xuyên, trính, đòn tay cây nào cũng sáu cạnh đều như nhau mới gọi là nghề... Ủa, làm trầm mắc gì dính đẽo cây vô đây? Xin thưa đi địu chín mươi chín phần trăm về tay không, còn một phần trăm là may mắn. Vì vậy khi “mo trắng” phe ta xuống một vùng miền nào đó. Dân sở tại sẽ thuê những kẻ thất bại giá rẻ lấy cho bộ cây cất nhà. Ta hạ, đẽo, kéo xuống kiếm cái ăn tiếp tục hành trình “ngậm... diêm mễ tìm trầm”.
 Nếu tạt xuống một khu dân cư nào đó mà họ không cần đến tay rìu, bầu địu thì làm sao? Lúc đó anh phải lấy tài sản mang theo để sắm chuyến. Thành viên nào cũng phải có ít nhất năm phân vàng trên ngón tay. Phải có, không có không ai cho theo. Trong ba lô cóc, mỗi người chỉ một tuần lương. Đến ngày thứ sáu chưa tìm ra được hồn linh của sự sống họ phải xuôi để làm lại.
 Sau giỏi võ, đẽo cây và vàng, ai cũng phải biết và phải có một bộ xĩa.
 Xĩa là gì?
 Là đồ nghề trong nghệ thuật nạo trầm. Bộ đồ nầy gồm bốn đến sáu cái. Từ nhỏ tí và mảnh như cái móc, cái báy để làm vệ sinh tai của thợ hớt tóc, đến lớn như cái đục vũm của thợ mộc. Tất cả phải ngọt, ngót và bén khủng khiếp để có thể nạo từng li, từng dem kỳ nam bám vào trong phần thịt của cây dó. Những người đã từng bôn ba theo nghiệp trầm mới có điều kiện để mục sở thị một bộ xĩa. Ai chưa biết khó hình dung lắm. Hãy nhìn một nghệ nhân dùng vôi vữa đắp tượng, họ có nghìn lẻ một loại bay, có cái mỏng mảnh và bé tẹo để tạo hình mi mắt, hoặc nếp nhăn tà áo. Trầm Hương, trong đó có Bạch, Thanh, Hoàng, Hắc kỳ. Gọi chung là Kỳ Nam. Kỳ Nam là nghĩa chi? Xưa lăng lắc giải thích là điều kỳ diệu ở phương nam. Sự kỳ diệu nầy luồn trong thịt của cây dó, tạo muôn hình vạn trạng và mỏng mảnh như sợi chỉ, xỉa và móc phải len vào, bàn tay phải dịu dàng để thánh thần rời nơi phàm tục. Mắt phải tinh để Thanh, Hoàng, Hắc đâu ra đó, vì mỗi loại là một giá trị vật chất khác nhau. Khó vậy sao? Mảnh dẻ vậy sao? Vậy mà nghe có ai đó trúng ký nầy ký nọ, sau một chuyến có khả năng thành triệu phú đô la. Ồ, có chứ, có bầu vô cả đôi chục ký không gì lạ cả. Nhưng - như đã nói - chỉ một phần trăm may mắn. Rất hiếm hoi kẻ ngậm ngải tìm trầm được phước. Nguyên một dải Trường Sơn bầu địu đếm vẫn còn dư ngón tay. Nguy hiểm lắm, gian khổ lắm. Đi địu tức là đi để đối diện sự chết, sống sót được là mạng lớn lắm, có trầm để làm giàu là nhị thập bát tú chuyển thế đầu thai.
 Bạch kỳ?
 Người chuyên sử dụng trầm trong những lễ cúng tầm cỡ quốc gia chưa chắc đã biết. Bạch kỳ, chỉ là một huyền thoại. Có kẻ bôn ba nguyên một dải Trường Sơn qua tận rừng Ăngko rừng Vạn Tượng, đốn ngã hàng trăm cây dó mà nào có biết đến Bạch kỳ. Thanh, Hoàng, Hắc là đại quý rồi.
 Trầm hương được tạo bởi cây dó, loại cây nầy cực nhẹ. Chính xác là nó gần như vô tác dụng, đã nhẹ lại mềm như bún, chả ai dùng nó để làm củi, đốt than, nói chi đến làm nhà. Một lóng cây dó tầm một người ôm, dài một mét, chỉ một tay là đỡ lên nhẹ nhàng, nhưng chính loại cây nầy lại cho ra một sản phẩm cực kỳ quý giá. Sự kỳ lạ nằm ở đó, đi tìm trầm ai cũng ngộ ra, chả có ai là đồ bỏ, chỉ có những kẻ không tìm ra được đường đi của mình, hay bước nhầm vào vũng tối rồi không rút ra được.
 Vậy mà trầm hương lại nặng và đó lại là một kỳ diệu khác mà loài người không thể giải thích. Một loại cây nhẹ tênh khi đóng kỳ lại nặng nhiều lần hơn. Có vào rừng mới biết sự linh thiêng của thâm u. Có làm trầm anh mới biết điều kỳ diệu của tự nhiên.
 Làm sao để nhận ra cây dó, và cây dó nào có trầm? Dó không khó nhận, nó thẳng băng và sừng sững, da loang lổ hai màu xanh xám, vỏ mỏng và thịt trắng như bông bưởi. Ta phải rọc rừng để truy. Có ngày rụng rời cả hai chân mà không ra lấy một cây. Có ngày tìm được nhưng cây không đóng trầm cũng đành chịu. Chiều đến phải ghé vào một con suối, cơm nước xong, lên lưng chừng giăng võng ngủ. Trưởng bầu luôn nằm riêng để nghe chim lịnh kêu.
 - Chim lịnh là chim gì? Mà sao trưởng bầu phải nằm riêng?
 - Không ngủ sát suối vì đêm, muông thú như heo rừng và các loài khác xuống uống nước, nguy hiểm lắm. Chim lịnh là con chim ăn trái dó. Tục truyền rằng loài chim nầy luôn theo ông ba mươi kiếm tí thịt thừa, và làm sạch sâu bọ trên ria của ngài. Có hay không vụ nầy không ai xác định, nhưng ai cũng tin vậy, và chắc chắn nơi nào có tiếng boong - boong - boong - khỏi - khỏi -khỏi là có cây dó. Trưởng bầu phải nằm riêng để nghe và định hướng tiếng kêu. Cái quan trọng của thủ lĩnh là ở đó. Sau một ngày băng rừng lội suối, cơm nước và đôi chén rượu là các thành viên ngủ khoèo, riêng trưởng bầu phải tỉnh theo từng tiếng động...
 - Có rượu à?
 - Có chứ, trong ba lô của mỗi người đều có bình tông rượu một lít bảy mươi độ cồn, rượu nếp nguyên chất. Một nắp bình hòa một chén nước suối, hiểu không?
 - Hiểu. Sau đó thì sao?
 - Cứ theo trưởng bầu mà tiến. Rừng sâu đâu có đường. Bạn phải rọc rừng bằng rựa ngọn. Định hướng và cắt cho nhanh không ai qua nổi dân trầm, đặc biệt nhất là trưởng bầu. Gặp cây dó có đóng kỳ rồi...
 - Làm sao biết cây dó có đóng kỳ?
 - Bằng mắt thường ta sẽ thấy có kiến dó xuôi ngược trên cây...
 - Kiến dó?
 - Vâng, là loại kiến đen, nhỏ xíu, chân lêu khêu ta vẫn thường thấy trong nhà. Cây nào có loại kiến nầy chắc chắn có trầm. Nhiều ít khi cây nằm xuống mới biết được.
 - Vì sao có cây có, có cây không?
 - Dân địu có câu thành ngữ rằng “có đau thương dó mới hóa thành trầm”. Cây dó đóng trầm là những cây bị gió bão làm cho bị thương. Tự trong thân sẽ phát tiết ra một hoạt chất để làm lành vết thương. Chất đề kháng đó tạo ra sự kỳ diệu... và cũng đóng đầy may rủi. Cây ngã xuống, khấn trăm thần rừng, ngàn thần suối, triệu bà bảy, ông ba, chỉ kiếm được vài ký dó kiến để làm nhang.
 - Dó kiến?
 - Là loại cuối cùng, giá trị bèo bọt nhất. Nghĩa là kỳ chỉ mới đóng, chỗ bị thương mới phớt một ít tinh dầu, ta gọt lớp tinh dầu đó bán cho dân làm nhang, vậy thôi.
 - Chán nhỉ?
 - Ừ, nản lắm, nhưng khi đến chỗ tập trung của Tào Kê thì niềm hy vọng sống lại?
 - Tào Kê?
 - Là một loại đầu nậu trong thu mua trầm kỳ. Họ đóng chốt rải rác dưới chân Trường Sơn từ Nghệ Tĩnh vào tận Phú Khánh. Hầu hết là người Hoa vùng Chợ Lớn Sài Gòn. Họ là những đại sư trong việc phân chia và đánh giá từng loại kỳ. Lại nắm tay nhau như anh em một nhà để khống chế giá cả. Từ trên ngàn xuống, có hay không đều phải gặp họ. Tào Kê siêu đẳng lắm, bằng mắt thường, phớt qua họ đã định được hàng hóa bao nhiêu trọng lượng đến hàng li, không cần cân kéo. Giá trị của trầm kỳ, hơn cả vàng, nó là kim cương, là hồng ngọc.
 - Khủng vậy sao? Chỉ là hương thơm thì không hẳn vậy?
 - Tất nhiên, nếu là hương thơm làm sao qua nổi hoa hồng Bungary. Công dụng của Kỳ nam nằm ở chỗ khác, chắc chắn nó được dùng để chế biến dược liệu, một thành phần trong loại thuốc quý nào đó mà phe ta không biết. Ta chỉ biết đến đau bụng, tháo dạ là hết phép. Kỳ nam cực hay. Tháo dạ chỉ vài giọt rượu ngâm hắc kỳ tức khắc ngừng lại. Cảm, trúng gió dùng rượu đó để đánh gió thì sảng khoái vô song.
 - Nghe nói Kỳ nam tinh chất đốt lên, hương của nó kích thích như sử dụng ma túy, có không?
 - Xạo. Làm gì có chuyện đó. Kỳ nam đắt hơn ma túy, hiếm hoi như hồng ngọc, mấy ai trên thế giới nầy tận hưởng được hương thơm của nó. Đức Giáo hoàng, Giáo chủ Hồi giáo và các Đại Sư chưa chắc hưởng được mùi hương nguyên thủy, ngoại trừ dân địu. Nó chỉ thơm và cũng có hơi sảng khoái một tí nhưng không hề gây nghiện.
 - Anh bảo gặp Tào Kê thì niềm hy vọng sống lại là sao?
 - Nơi nào có họ, nơi đó có dân trầm kỳ. Có kẻ “mo” nhưng cũng có bầu trúng. Có bầu sau một chuyến chia nhau người vài cây vàng. Kẻ thất bại luôn nghĩ rồi sẽ đến phiên mình... kẻ trúng sẵn sàng ra tay giúp đỡ anh em vài đồng sắm chuyến khác. Nhưng hy vọng và thất vọng luôn đi bên nhau
 - Là sao?
 - Dân địu là bụi đời chính thống. Họ gái gú, nhậu nhẹt, bài bạc... Tứ đổ tường không từ một món nào. Luôn luôn có những sòng bạc sát phạt nhau ở nơi thu mua trầm. Kẻ ăn bạc về thăm phố, kẻ thua lại tiếp tục hành trình. Có cả bi kịch xẩy ra. Bi lắm, không đùa đâu?
 - Kể thử một bi kịch nghe chơi.
 - Đơn giản thôi, thằng gian lận bị thằng thua phạt một lưỡi rìu. Hãy tưởng tượng sức mạnh của một tay băng rừng lội suối, và lưỡi rìu xuyên suốt từ bụng qua lưng. Dưới chân núi, xa lộ lớn hàng chục cây số. Kẻ thủ ác chạy ngược lên rừng, người bị nạn đành chấp nhận chết và bằng hữu sẽ vùi thây kẻ xấu số lại tại đó...
 - Trời ơi! Rồi bầu địu đó nói với gia đình kẻ tử nạn làm sao?
 - Bị tai nạn, qua thác, qua ghềnh sẩy chân rớt xuống vực. Rắn cắn, heo rừng húc... Đành gửi xác lại cao xanh. Vậy thôi. Đã nói nghề đi địu là đi tìm sự chết...
***
 Ba Thùy, Dũng Đen, Phi Long và Ngọc chung một bầu địu.
 Họ dư tiêu chuẩn để vượt núi băng ngàn. Trong mắt họ, không gian toàn hình chữ V ai đã từng lội núi băng non, trong đôi mắt toàn chữ V đứng ngược. Võ nghệ cao cường. Rừng, với họ là hơi thở. Cả bốn chung một tham vọng làm giàu, và cùng chung thất nghiệp. Trừ bán sức có nghề nào đâu mà thất với chả bát.
 Ba Thùy, Dũng Đen và Ngọc độc thân nên vui tính, sống kèm câu xả láng sáng về sớm. Riêng Phi Long một vợ bốn con. Long là giang hồ thứ thiệt. Gặp Ngọc trong một sòng bạc ở Pleiku, chơi tiến lên Long lột sạch. Giang hồ Pleiku đâu phải tay mơ, Long ăn nhưng không ra được khỏi sòng. Ngọc vung tay đả bại bọn ăn vùa thua giật, xong, cả hai chạy một hơi về duyên hải. Ngọc dẫn Long lên một miền kinh tế mới. Mai. Tên cô gái mới lớn nghe cái miệng dẻo quẹo, và nét hào hoa cờ bạc ngã vào tay Long. Chín tháng sau cô cho ra đời hai hài nhi, lần thứ hai cũng sinh đôi, tổng một lốc bốn con vịt trời. Long giao tất cả cho bên vợ, mặc kệ anh vợ chửi rầm trời đất. Hoàn cảnh nầy chỉ có trầm hương, vàng và đá quý mới có cơ may đứng được với đời, thôi thì đành chấp nhận nghe chửi bới. Tài sản ở dưới đất và trên rừng. Cứ tìm, một ngày nào đó ta sẽ gặp nhau.
 Mỗi chuyến đi của họ ít nhất là ba tháng, mỗi lần về tay trắng là chắc. Họ phiêu lưu vì tư tưởng phiêu lưu, sống vô bến bờ nên gia đình cầm bằng như bỏ. Về đến nhà là bị xem như gánh nặng. Thời khó khăn ai cũng lao vào kiếm sống, còn mình cứ rừng mà du lịch là sao? Bồ già chửi: “Đồ ích kỷ, đồ khốn kiếp…” Mẹ già? Lúc đầu cũng thương lắm, khuyên riết cũng mặc kệ mày luôn. Còn Phi Long? Ngoại trừ vợ thở dài, con khóc, chao ôi, bốn cái loa nó khóc. Còn thêm ông anh vợ đù tất tần tật từ dưới đất lên đến tận trời.
 Trời ơi! Đâu có ai hiểu cho băng ngàn lội suối nó cực khổ thế nào? Ai mà muốn cuộn mình giữa rừng sâu? Sướng ích gì đêm nằm nghe tiếng suối chảy, cọp gầm, vượn hú. Ma trơi thét lanh lảnh cả tràng. Có đêm ông ba mươi gầm gần quá phải bỏ võng trèo lên cây, kiếm cái chạc ba mà gục đầu mong trời mau sáng… Chưa hết. Có lần hết lương ăn bộ tứ bò xuống bị công an hốt về đồn vì tóc tai và râu ria, quần jean Mỹ áo pull không khác bọn phản động. Lôi cổ về, vỗ bàn: “Bọn mày ở đâu? Thủ lĩnh là ai? Khai ra. Trước đi lính ở đơn vị nào?” Không có vẫn bị nhốt lại. Tống ra tiệm hớt tóc. Công an dùng kéo xắt từ ót lên tận đỉnh đầu, chỉ còn nước cạo trọc. Rồi di lý về địa phương, gia đình lên bảo lãnh… thề không đi nữa… nhưng vẫn cứ lên đường.
 Sao quyến rũ thế? Ừ, quyến rũ lắm… Có mới đi chứ, không có ai mà đi… Và hiểu biết nhiều lắm… Nè, cái nghề đãi vàng bắt đầu từ dân địu đó nghe. Đi ngang một con suối, một dòng sông thấy các cô gái Lào ngâm mình, tay thoăn thoắt chao, đãi cái mâm gỗ. Dừng chân đứng xem chơi. À à… Có vàng nè, một chấm thôi, nhưng đích thị là vàng. Nói cho biết luôn, người dân tộc dùng mâm gỗ đãi vàng, trước khi người Kinh làm ra mâm sắt nắp thùng phuy.
 Có đá quý nữa đó. Đang đi bỗng hiện ra những hầm là hầm. – Ủa, làm gì đây mấy anh? – Đãi đá – Đá gì? – Đá quý. Bộ mấy anh không biết hả? – Có hông cho xem với? Vài viên đá đủ sắc màu từ trong lọ trút ra. Đỏ, xanh, trắng, trắng đục, vàng chanh…
- Viên vàng chanh nầy chừng năm ngàn.
- Năm ngàn mà cũng đãi sao?
- Năm ngàn đô đó cha nội.
 Trời, xứ sở mình giàu thiệt chớ chơi sao? Vàng, trầm hương, đá quý. Vậy mà mình nghèo là sao? Nhớ nghe, lớp đất như vậy là khả năng có vàng rất cao, còn đất như vầy là phải có đá quý. Để ý cho kỹ vào, rồi có một ngày phe ta sẽ gác rìu ôm mâm. Còn bây giờ ta rong ruổi.

OK, hạ cây nầy… Khoan để tao khấn đã. Phát sạch gốc ra. Phi Long rót rượu mày… Cầu xin đất trời thổ thần nhơn trạch, núi rừng sông suối… Rồi, hạ đi… Rìu phập vô thân, dăm cây rào rào như bướm bay. Ầm.
 Trưởng bầu Ngọc nói trong tiếng thở dài:
- Cây nầy chừng hai năm nữa là bọn mình giàu.
 Thôi thì, có còn hơn không. Nạo ra, xỉa ra, Thanh ra thanh. Hoàng ra hoàng… Được tí nào hay tí đó. Thằng Phi Long, mày lấy dó kiến đi. Về mà lo cho bầy con mày. Mỗi lần chửi là thằng Quý - anh vợ mày - nó chửi lây cả tụi tao. Yên tâm đi khả khả khả… Một ngày nào đó nó sẽ bảo: “Phi Long ơi giúp tao với…”

Minh họa của Thúy Hằng
Tọt xuống một làng ven chân núi: “Mấy chú lấy giúp tôi hai cột cái, tám cột con, mười sáu kèo… Trời. Thêm đi ông anh ơi, giá đó bèo quá làm sao sống… Vậy là hết giá, được thì lấy, không thì thôi. Đành vậy, kỳ kèo chi cho hao hơi tổn sức, vấn đề của chúng ta là trầm kỳ đâu phải ba cái linh tinh…
 Lại tạt xuống:
- Ê, chỗ nầy tào kê nào đóng chốt?
- Thằng A Coóng quận 5.
- Ê A Coóng. Ông còn giang hồ gấp chục lần bọn tôi à. Mới gặp ông ở đèo Ngang, giờ là đèo Cả. Chừng nào ông đi Mang Yang?
- Hề hề. Lâu góa mới gặp lị à. Mấy lị ở chân trời nào, ngộ ở góc pể đó liền. Chuyến nầy có gì không lớ?
- Ông coi mớ nầy, định giá cho bọn tôi sắm chuyến khác coi.
- Dzồi… toàn bộ chỗ lày một chỉ dzàng. Hết giá nghe.
- Bèo vậy cha nội?
- Ngộ thu hàng không bao giờ pèo, lơn giản là mấy lị quá rành giá cả…
- Một chỉ không đủ sắm chuyến khác rồi cha nội ơi.
- Thiếu cái gì ngộ ủng hộ thêm… Yên tâm đi. Làm cái nghề như mấy lị, sẽ có một ngày thần rừng mở cửa thôi.
Một chỉ bõ bèn gì? Ghé vào đây xem bầu nào đang sát phạt:
- A, Đặng, lâu quá mới gặp. Chuyến nầy sao rồi? Mấy thằng em mày đâu?
 Phong trần tên Đặng trả lời:
- Cũng dzậy thôi. Còn mày? Dũng Đen, Phi Long đâu?
- Tụi nó đang nhậu. Cho hỏi thăm Quý ròm và Bốn Hoa em mày.
- Tụi nó đi “vượt đèo”.
- Trúng quả hay sao mà có tiền “vượt đèo”?
- Đâu có. Tối qua ăn được mấy đồng xập xám của bầu Châu Huế, tụi nó đi xả xui. Đợt nầy Châu Huế trúng đậm
- Đậm là bao nhiêu?
- Hai chục cây.
- Bà mẹ nó, không biết bao giờ đến phiên tụi mình.
- Chơi không? Thế tay tao tí coi.
- Ê – Một đệ tử thần đổ bác kêu lên – Ăn rồi tính đánh bài chuồn hả bạn đường?
 Một trọ trẹ Hoa Việt:
- Không sao lâu lớ. Đặng lương sơn bạc lắm lớ.
 Đặng cười cười:
- Yên tâm đi, Đặng nầy không bao giờ bỏ cuộc.
Ngọc xòe bài. Chỉ vàng được gã Việt gốc Hoa quy ra tiền. Dân địu môn nào cũng biết chơi… Mà mỗi lần rời năm non bảy núi, còn biết gì ngoài nhậu nhẹt, gái gú và kỳ bẽo… và cũng xin nhớ cho rằng đường dân địu đi không ướt mưa. Những cây mưa đầu mùa trên đỉnh cao, đã làm biết bao người để lại nắm xương tàn. Đầu mùa mưa, tất cả bầu địu phải rời rừng xanh. Vì thế. Nơi tào kê đóng chốt luôn là những thung lũng đầy ngập ánh trăng vàng. Hàng quốc cấm, nên họ đóng và chuyển, ma không biết quỷ không hay.
Chòi dã chiến sát chân núi, đề lô rải dày đặc, có động là tất cả độn thổ vào rừng. Dân địu, tất cả đều vỗ ngực tự xưng mình là một trong một trăm lẻ tám Lương Sơn Bạc, mặc dù có kẻ chẳng biết Lương Sơn là cái chi chi, có tay còn lầm là Lương Sơn Bá của Chúc Anh Đài. Nhưng tinh thần là chơi tới bến, không bỏ cuộc, không chơi xấu. Kẻ thắng giúp người thua sắm chuyến.
 Gái gú hả? Trên tất cả các đỉnh đèo đều có các em. Đèo Ngang có tắc te, tắc te. Hải Vân, Cù Mông, đèo Cả có mát xa không anh trai ơi… Phong trần cùng người đẹp đi sâu vào những bãi đáp, dưới những gốc cây, một tấm bạt ni lon trải ra. Xa xa, mỗi gốc mỗi cặp, ôm nhau tình như trai gái hẹn hò.
 Ba Thùy, Dũng Đen, Phi Long sau vài chai ba xị, kéo nhau đi “vượt đèo” và an toàn về bãi đáp lúc nửa đêm. Trăng vàng và gió núi dịu dàng thổi. Đẹp, thơ mộng như thơ tình Xuân Diệu. Ghé vào sòng. Chà! Một xấp tiền cao cả gang tay, toàn mệnh giá lớn đang yên vị trước mặt Ngọc, và bài Ngọc đang là mậu binh bốn con chín:
Tỉu khì hà má - Hoa việt - chửi thề.
 Phi Long – con ma bài – ngồi cạnh trưởng bầu Ngọc, coi chơi. Rồi có rượu, vừa ôm gái xong. Phi Long đi vào giấc ngủ. Tỉnh dậy đồng hồ điểm bốn giờ sáng, bởi Ngọc chửi thề:
- Đù má. Đen thiệt.
 Đống tiền trước mặt Ngọc đã về tụ A Phúc, gã Hoa Việt, em A Coóng. Phi Long hỏi:
- Xuống hả? Đưa tao thế tay cho.
 Ngọc nhường bài cho Phi Long. Tay chuyên nghiệp thoăn thoắt xóc, xào, chẻ. Long hỏi A Phúc:
- Bài của mày hả?
- Ừ. Của ngộ, bài mới đó.
 Phi Long quăng bộ bài
- Đù má, mày chơi điếm.
 Cả bọn ngừng tay ngó A Phúc. Hoa Việt kêu lên:
- Pậy pạ à. Ngộ hên xui thôi.
- Hên xui cái củ c. Mày chơi căng lá hai.
- Cái gì? Căng lá hai là sao? Cả bọn nhao lên.
 - Trả lại tiền đi – Phi Long gằn giọng
 Nghe ồn ào. A Coóng rời võng bước vào:
- Lừng có làm ồn, chơi dzui mà. Chuyện gì vậy?
- Thằng em ông gian lận, nó chơi căng lá hai.
- Ngộ không hiểu?
- Ông mà không hiểu. Phi Long nầy rành bài hơn Út Trà Ôn rành cổ nhạc. Chơi kiểu này anh em ông mất mối làm ăn rồi.
- Mà căng lá hai là sao? Một hảo hớn hỏi.
- Mày cứ lấy lá hai cơ trong bộ bài nầy ra coi đi, nó nhỏ hơn mấy con khác một tí.
 Lá hai cơ trình làng, chuyền tay nhau. Á à nó nhỏ hơn một tí, Nhưng mà sao? Phi Long giải thích:
- Nó để cho mình ăn đến nửa đêm. Sau nửa đêm lợi dụng đối phương mệt mỏi và thắng trận, nó thay bài đã làm sẵn, hiểu không? Bài đánh xuống, lợi dụng mất cảnh giác nó xếp lại theo ý muốn, một tay trong sẽ kinh ngay con hai, vậy là thánh cũng chết. Tao nói đúng không? Bọn tao khổ chết mẹ, mày chơi kiểu này là thấy mẹ mày rồi. Trả lại tiền nếu muốn an toàn rời khỏi đây.
 A Phúc kêu lên:
 - Ngộ xin thề, ngộ không gian lận. Không tin hỏi anh Ngọc đi, bài trong hộp khui ra đàng hoàng.
 - Tao đã từng thu gom bài cả một thị trấn về làm rồi dán lại đem bỏ mối, mua ở quán bất kỳ nào cũng là bài của tao. Bài mày mang theo, không làm mới lạ à. Tao là vua điếm nè. Trả lại tiền cho anh em, nếu không muốn ăn direct vô mặt
Roạt. Tiếng lên đạn.
- Bỏ tay ra đi, đừng đánh nhau, còn có tao đây – A Coóng lên tiếng.
- Ông dám bắn không? Bắn tôi ông cũng tiêu đời. Tiền vàng ông cả ba lô. Ông mất nhiều, bọn tôi đâu có mất chi – tỉu khì hà má – Trả tiền lại.
 - Ok. Ngộ trả - Phúc kêu lên - Ngộ trả.
 Trời sáng.
 ***
 Đời mà. Không gian manh, không giảo quyệt đâu phải cuộc đời. Thôi lên đường. Nào, sắm cho đủ một tuần lương, mua thêm nải chuối, khô, diêm, mễ, rượu nữa đó. Để tao cúng cái đã – lạy ông cầu bà quán, lạy thần núi thần rừng, cầu bà bảy ông ba, xin chú hai thím bảy… Rồi. Làm vài ly trước khi ngược ngàn.
- Mẹ, thằng Phúc đểu thiệt. Mà mày nhà nghề thiệt đó Phi Long. Không có mày thằng Phúc lượm sạch.
- Tao từ khi bỏ Pleiku, là bỏ luôn cờ bạc. Cờ gian bạc lận, không trách ai được hết. Mẹ nó, nhớ vợ con quá, đi chuyến nầy mà thất bại nữa, chắc tao ở nhà chặt củi đốt than, nghĩ đi nghĩ lại thấy tội nghiệp vợ con và bà già vợ quá chừng.
- Im cái miệng mày lại – Trưởng bầu nạt – chưa ngược mà nới gỡ.
 Lên đường… đường còn dài, còn vương trên quan tái, xa xa trông… Nào, đèo cao, suối sâu, ghềnh thác cheo leo.
- Trời ơi. Đẹp chưa kìa.
 Bên dưới là một thung lũng bạt ngàn cỏ tranh, không một cây cối nào tại vị.
- Sao lại tranh không vậy kìa?
- Hồi chiến tranh, chỗ nầy bị không quân Mỹ bỏ bom bùn và thuốc khai quang, thành ra tiêu tan hết.
 Lại đi… Đi… Đi... Và tương lai mở ra. Biết mà. Đi đêm dứt khoát phải gặp ma, không ma chết thì ma sống. Hỡi những kẻ từng đi qua gian khó, từng được dạy rằng hạt cơm là hạt ngọc. Cả đời luôn giật gấu vá vai và quần có hai miếng vá. Một hôm kia tình cờ lượm được cái bóp trong đó có nhiều nhiều tiền, hoặc hú họa một tờ vé số vô ngay lô giải nhất. Chao! Sướng. Nó nghẹn ứ đến tận cổ mà chẳng chịu òa ra, vỡ ra. Cơm nuốt xuống không được, nhưng mắt lại ánh màu hạnh phúc. Có ai thấy được màu của hạnh phúc chưa? Nó được nhạc sĩ diễn tả rằng cuộc đời vẫn đẹp sao, tình yêu vẫn đẹp sao…
 Xin giới thiệu kỳ thanh, bóng loáng một màu xanh lục. Hoàng kỳ rực rỡ một màu vàng, hắc kỳ, tất nhiên đen. Nhưng cả ba cộng lại là mầu của 24 cara. Thật kỳ lạ, khi cây dó đóng trầm ngã xuống, ma lực vô hình hút con người vào, họ chăm chú, săm soi, cẩn thận, lao động quên thời gian, không gian. Kẻ nạo, người xỉa. Bên kia đẽo, nghiêm túc quên luôn cơm ăn và nước uống. Phi Long run giọng:
- Theo mày, chừng này cỡ bao nhiêu hả Ngọc?
- Ít lắm cũng bốn mươi cây. Mỗi thằng một chục. Vậy đi há… Con tạ ơn thần rừng. Thôi mày nghỉ tay tí đi, xuống suối lấy miếng nước lên uống, để bọn tao làm cho.
 Phi Long xuống suối. Cả ba tiếp tục. Đi thì khổ lắm, mo thì tay chân rời rã và đời đen như mõm chó, nhưng trúng rồi không hiểu sao tinh thần phấn chấn lên. Điều gì đã tạo nên sự phấn chấn đó? Lại khỏe ra nữa chứ. Rõ cái vật chất quyết định tất cả.
 Lâu lắm, Dũng Đen ngước lên:
- Thằng nầy sao lâu vậy kìa? – và gọi – Phi Long ơi.
 Không có tiếng trả lời. Ngọc và Ba Thùy cũng buông xỉa nhìn về hướng có tiếng róc rách. Ngọc gọi tiếp:
- Phi Long…
 Cùng bật dậy, tay lăm lăm rựa ngọn dò xuống suối. Và cùng đứng phắt lại khi thấy Phi Long đang vắt bên bờ suối. Bên cạnh là một con hổ mang bành đang phùng mang, cái đầu lắc lư nghênh chiến. Dũng Đen dợm chân lao xuống, nhưng Ngọc giữ tay lại:
- Đừng.
 Ngọc ném cái rựa về phía con rắn. Cái đầu vươn cao, rồi lướt đi nhẹ và êm như nhung.
 Cả ba lật cái xác của đồng đội lên. Thằng bốn đứa con gái, vợ đang mang bầu đứa thứ năm đã chết.
 Các võ sĩ nâng kẻ tử nạn lên, đặt bên gốc dó. Sáu cánh tay ôm lấy ba cái đầu. Rỗng không và trời ơi!... Trời ơi!
 ***
 Một cái hố được đào bằng rìu, đất hốt lên bằng tay. Phải thật sự sâu. Ở rừng cao, heo rừng đánh mùi cực tinh. Ngọc dùng rìu bổ đôi một bộng bằng lăng. Phi Long yên vị trong cỗ áo quan đó. Trên đầu dưới chân được đóng lại bằng hai miếng gỗ dó đẽo bằng. Hương trầm nguyên thủy được đốt lên, mùi thơm ngào ngạt tỏa khắp rừng thiêng. Một đám táng buồn và lặng lẽ, có giọt nước mắt nào không? Có chứ, nhưng nó đầy ắp trong tái tim của ba người còn lại. Giờ đây nó lại chứa thêm một câu hỏi: “Ăn làm sao? Nói làm sao với vợ con thằng xui xẻo?”
- Nhớ chỗ nầy – Trưởng bầu ngậm ngùi – Cất cái rìu và con rựa của nó vào gốc đổ vỏ kia. Ba năm nữa lên, đưa nó về trả cho vợ con nó. Lại khấn: Phi Long nè, số mày vậy, đành chịu vậy. Phù hộ cho bọn tao về nhà được bình an, tao sẽ đưa phần của mày cho vợ con mày. Giờ mày ở đây ngủ ngon đi, ba năm nữa bọn tao sẽ đưa mày về, há?
 Vàng, đá quý, trầm hương. Để làm gì nhỉ? Nào, về… Về nghe Phi Long. Ngọc tiếp tục:
- Nghe đây, lủi thủi về thì chẳng sao hết, nhưng có hàng là có sơn tặc. Bọn nó rình dân địu hay lắm. Phải cảnh giác và phải chiến đấu đến cùng, nếu không là ở lại với Phi Long. Tao và Dũng Đen mang hàng, Ba Thùy, mày vác cái ba lô của Phi Long về đưa cho vợ nó làm kỷ niệm. Bỏ cán rìu đi, đóng chốt tay lái cho chặt vào. Bây giờ phải dùng rìu như mũi kích vậy, sẵn sàng sinh tử.
- Rồi, hiểu rồi.
 Vai ba lô tay rựa, tay rìu. Tuôn xuống, đường về tất nhiên khỏe và nhanh hơn đi lên. Vàng trong tay lòng vui như mở hội. Một thằng chết lòng như mùa đông, hòa chung với lo âu và thấp thỏm. Và ma quỷ hiện ra:
- Ê, đứng lại coi – Roạt. Tiếng lên đạn – Bỏ mấy cái ba lô xuống, nếu muốn sống về với gia đình.
 Bốn lục lâm thảo khấu hiện ra. Tóc chấm vai, bịt mặt. Tay lăm lăm mã tấu. Một thằng giương M16 chực nã đạn:
- không có gì đâu mấy đại ca, toàn dó kiến thôi.
- Dó kiến cũng bỏ xuống. Tao đếm đến ba không bỏ xuống là bỏ mạng à.
 Cái chuẩn cần phải có của dân địu là sự bình tĩnh. Cả một đời bươn chải trong gian khó và thất bại, đã làm tâm hồn người chai sạn và khô cứng trước mọi nghịch cảnh. Lại là những võ sĩ đã từng thượng đài, có thắng cũng ăn đòn mềm người, huống chi thua. Ngọc và Dũng Đen đặt ba lô xuống:
- Bỏ ba lô xuống đi Thùy. Mấy anh kiểm tra đi.
 Nhưng… Phải có cái chữ nhưng mới ra chuyện. Ba Thùy vừa trải qua khủng hoảng. Một thằng bạn thân vừa qua đời, một câu hỏi phải trả lời với vợ bạn… Ba Thùy điên lên:
- Đù má… Bỏ cái con…
- Đoàng - Phát đạn vang lên - kèm tiếng thét của Ba Thùy.
 Nhanh như một tia chớp - võ sĩ mà - Ngọc lướt thật nhanh đến thằng M16, lưỡi rìu vung lên chém một nhát ngọt như mía vào cái bụng. Ngọt quá, nhanh quá, và mạnh quá, lưỡi rìu trổ qua sau lưng.
 Dũng Đen cũng nhanh không kém. Mũi rìu cắm thẳng vào mặt một thằng mã tấu. Máu, máu và máu. Dũng Đen chạy đến bên Thùy. Viên đạn trúng vào tay. Dân địu là vua sơ cứu vết thương và trầm hương là chúa cầm máu.
- Quỳ xuống - Ngọc ra lệnh cho hai thằng còn lại.
 Trước mũi súng, tất nhiên quỳ.
- Muốn sống không? Bà mẹ tụi mày, bỏ nghề ăn cướp đi, có biết tụi tao khổ lắm không?
 Tay vung lên, karate chặt vào gáy. Người bất tỉnh, kẻ vong mạng.
***
 Rồi cũng về đến chốn:
- Nghe đây – Trưởng bầu ra lệnh – Dũng Đen, mày đem hai ba lô hàng vào khách sạn X. Tao và thằng Thùy vào bệnh viện.
 Lại tiếp với Ba Thùy:
- Mày thấy sao? Mệt không? Vào bệnh viện nếu không sao thì biến ra. Hy vọng chỉ trúng vô phần mềm. Đừng để công an dính vô vụ nầy, rắc rối lắm.
- Đừng vào viện – Ba Thùy nói – Cứ để tao vào khách sạn với tụi bây, mua cồn, trụ sinh làm sạch cái đã. Tao nghĩ không sao, nếu có sao lên Mang Yang nhờ ông Phi Hổ thầy thằng Dũng Đen. Bây giờ vô bệnh viện là có công an liền, chỉ một câu “ai đã bắn anh?” Là tao không trả lời được rồi.
- Vậy đi – Dũng Đen xen vào – Lỡ có gì thì nhờ sư phụ tao. Nhưng tao nghĩ chắc chỉ bể thịt vai.
 Và may quá. Đúng là trong họa có phước, trong phước có họa. Sau đó thì sao? Thì lâu lâu kéo vai áo xuống kể cho phố thị biết một thời ngang dọc, khoác lác xong lại buồn buồn kể về một con hổ mang bành. Rồi kết luận tiền là tiên là Phật, nó mua được tất cả, ngăn được tất cả các dòng chảy. Cả dòng chảy của nước mắt.

Nguồn: Daibieunhandan

Tìm kiếm Blog này