Tim thông tin blog này:

Thứ Sáu, 26 tháng 9, 2014

Những cái bất ngờ lý thú khi tìm hiểu tiếng Việt và nguồn gốc Nam Á của nó Nguồn gốc tiếng Việt

Written by Nguyễn Hy Vọng   
Theo các nhà ngữ học Mỹ thì tiếng Mỹ là thứ tiếng nói đã vay mượn rất nhiều từ ngữ của các ngôn ngữ khác trên khắp thế giới, vì thế mà nó rất dồi dào và sống động, trở thành tiếng nói số một của loài người, hiện nay.

Theo tôi thì tiếng Việt cũng không thua kém chi , nếu ta đặt nó vào cái hoàn cảnh lịch sử khó khăn của đất nước Việt qua hơn hai ngàn năm nay.
Hiện nay, tiếng Việt đứng hàng thứ 12 trên thế giới về số đông người nói và đang lan ra khắp thế giới tự do từ cái biến cố lịch sử 30 tháng tư 1975.

Tiếng Việt có một nguồn gốc rất là đa dạng vì qua 2,3 ngàn năm, nó đã lai giống với rất nhiều tiếng Mon, tiếng Khmer, tiếng Thái, tiếng Lào, tiếng Chàm , tiếng Malay, và đã vay mượn rất nhiều tiếng Tàu mà xài, rồi thì trong trăm năm vừa qua lại đã mượn hàng trăm tiếng Pháp như mũ bêrê, cái kilo, cái gara, vải kaki, bình accu…

Hiện nay thì tiếng Việt đã mượn rất nhiều và rất tự nhiên thoải mái hàng ngàn tiếng Anh Mỹ như computer, battery, charge… kể ra vô số, mượn như thế, sau một thời gian sẽ việt hoá chúng nó hoàn toàn và chúng nó sẽ trở thành tiếng Việt luôn. Đó là một điều rất hay, tiếng Việt sẽ dồi dào thêm, có thêm nhiều ngữ vững, nhiều cách nói, nhiều cách phô bày tư tưởng.

Nhưng ta nên biết rằng dù có nói bao nhiêu từ ngữ mà nguồn gốc khác nhau đi nữa, ta cũng chỉ có một cách viết là thứ chữ abc của ta hiện nay, ta không còn viết chữ nôm nữa và ta không còn biết viết chữ Tàu nữa, và sẽ không bao giờ.
Như trong câu nói sau đây : 
cho xe vô gara rồi check giùm cái battery, nếu hết sạc thì câu điện giùm, rồi vô nhà coi công tơ tháng này tiền nước bao nhiêu !

Có đến 6 thứ tiếng khác nhau của khắp thế giới trong câu nói ngắn gọn đó mà ta đâu ngờ [Việt, Hán Việt, Tàu, Pháp, Anh-Mỹ]

Một chuyện lạ hơn nữa là cách đây hơn hai ngàn năm, khi ông bà ta chưa biết đến người Tàu và tiếng Tàu, chữ Tàu thì họ đã dùng và xài hàng ngàn tiếng một của hàng chục ngôn ngữ ở Đông nam Á châu, mà từ lâu ta cứ tưởng như đó là tiếng Việt của chúng ta mà thôi.

Thật ra khi ta nói thiết tha tha thiết thì đó cũng là tiếng Thái 
vắng vẻ thì nó cũng là tiếng Lào
đủng đỉnh thì đó cũng là tiếng Thái
vơ vẩn vẩn vơ thì đó cũng là tiếng Lào
khi ta nói chân tay, dơ chân dơ tay lên thì nó là tiếng Miên
và nói một ngày, một hai ba bốn năm thì đó cũng là tiếng Miên

Cách đây 200 năm, cụ Nguyễn gia Thiều đã viết
"trẽ tạo hoá đành hanh quá ngán"
thì đành hanh là tiếng Chàm đó bạn ơi [có nghĩa là ganh ghét, ganh tị]
Cách đây 600 năm, cụ Nguyễn Trãi đã viết :
" Tuy rằng bốn bể cũng anh tam"
thì tam cũng là gốc Mã lai đó bạn ơi [htam có nghĩa là đứa em trai nhỏ tuồi]
Cụ ấy cũng viết rằng : " hai chữ công danh tiếng vả vê"
đó là tiếng Lào, có nghĩa là "trống vắng"

Khi ta nói cái đùi cui [trong nam] còn ngoài bắc thì nói là cái "dùi cui" thì 250 triệu người Indonesia hiện nay cũng nói là "đul kul" gần như y hệt !
Còn như hai tiếng "nôm na" mà ai cũng tưởng rằng nôm là nam , vậy thì na là gì ?

Thật ra "nôm na" có nghĩa gốc là xưa cũ lâu đời, đã có từ lâu
Các từ điển Lào, Thái, Khmer đều có ghi, viết, đọc, và giải thích hai chữ ấy và đều có giải thích rõ ràng như vậy

Tiếng Nôm là tiếng nói xưa của người nước ta, đã nói như vậy từ lâu, trước khi ông bà ta gặp người Tàu.

Còn nhiều nữa, rất nhiều nữa, cả thảy 27,400 tiếng một như vậy, ta đã cùng nói, cùng xài chung, dùng chung, mà nguồn gốc là từ nhiều ngôn ngữ anh em đồng nguyên chung quanh nước Việt của ta.

Không có một tiếng Việt nào mà không có chung gốc gác với các tiếng nói anh em chung quanh ta [gốc gác cũng là tiếng Thái đó, các bạn ơi ! họ nói là rốc rác và có nghĩa là gốc và rễ, nghĩa bóng là giòng giõi, giòng giống đó !

Các tiếng nói ở Đông nam Á [Khmer, Lào, Thái, Chàm, Malay, Indonesia, Nùng, Hmong, Bahnar, Rhade, v.v..], đều bao bọc tiếng Việt trong một vòng dây thân ái của tình anh em ngôn ngữ chung giòng, chung họ hàng bà con, mà mấy lâu ta không biết đến đó mà thôi.

Nhưng tiếng Việt có một điểm rất lạ, dễ thì thật dễ mà khó thì cũng thật khó, vì mấy lâu nay, ta cứ tưởng là ta nói và viết được tiếng Việt là ta hiểu được tiếng Việt ?
Thật ra ta ta không hiểu dược tiếng mẹ đẻ của ta nó ra làm sao cả !
Ta nói và viết đau đớn mà ta không hề biết đớn là gì
[đớn là tiếng Mon bên Miến điện có nghĩa là đau cái đau của lòng mình]
Ta nói rộn rịp mà không hiểu rịp là gì 
[rịp là tiếng Lào Thái đó bạn, có nghĩa là bận việc]
Ta nói săn sóc, chăm sóc mà ta chẳng hiểu săn là gì mà sóc là gì
[săn là theo dõi, sóc là sức khỏe đó bạn ơi !/ gốc Pali, Sanskrit]
Có cả thảy chừng 10,000 tiếng đồng nguyên, gốc gác như thế.

Thành thử, dù ta có biết chữ Nôm, chữ Tàu thật nhiều đi nữa, ta vẫn không thể nào biết được ý nghĩa tiếng Việt của ta đâu !
Biết thêm vài ba ngàn tiếng Pháp, tiếng Anh, chữ Tàu, chữ Nôm thì cũng tốt thôi, ta sẽ trở thành một thứ học giả bất đắc dĩ, đừng tưởng rằng như vậy là đã thông suốt tiếng Việt

Cái điều kiện chót này đòi hỏi phải có một khả năng hiều biết ý nghĩa, nguồn gốc của mỗi một tiếng Việt, từ A cho đến Xược, mà con số lên đến # 10 ngàn tiếng một.

Chỉ có một cách qua được cái khó khăn vượt bực đó. Phải có một bộ Từ điển nguồn gốc tiếng Việt , tham khảo tất cả 58 thứ ngôn ngữ lớn nhỏ khắp miền nam Á châu, chúng nó đều có phần đóng góp âm thanh, giọng nói và ý nghĩa gốc gác, làm nguồn cội thôi nôi cho mọi từ mọi ngữ trong tiếng mẹ đẻ của chúng ta, và đó là bộ từ điển sắp ra mắt người Việt trên toàn thế giới, cho xứng đáng với câu nói đầy khen ngơi của nhà ngữ học Leonard Bloomfield : 
"Vietnamese, a great cultural language"

Mong một dịp sau, sẽ trình bày và ra mắt toàn thể bộ từ diển đó cùng quý vị và các bạn


 

NHỮNG CÁI BẤT NGỜ LÝ THÚ

 trong khi tìm hiểu tiếng Việt và nguồn gốc Nam Á của nó

(Tác giả: Nguyễn Hy Vọng)

Có một nhà ngôn ngữ học rất đặc biệt là ông Paul Benedikt.

             Ông này, có lần đến Sàigòn chỉ một ngày mà tìm ra bao nhiêu là tiếng Việt dính líu với các tiếng khác ở Đông Nam Á, và ông này đã viết nhiều về những gì mà tiếng Tàu đã vay muợn  của các tiếng nói khác ở Đông Nam Á, giải tỏa cái huyền thoại sai lầm  là ai cũng muợn tiếng và chữ Tàu mà dùng, trong khi tiếng Tàu chẳng cần mượn tiếng của ai cả.

             Những khám phá mới của ông Benedikt đã đảo nguợc vấn đề ai muợn của ai và làm sáng tỏ thêm về sự đóng góp đáng kể cho tiếng Tàu  từ những tiếng khác của các dân tộc trong vùng Đông Nam Á [South East Asian linguistic influence upon the Chinese]

             Từ 1967, các ông Benedikt và Jerry Norman  nghi ngờ về tên của các con vật năm tuổi / tý sửu dần mão v.v là do Tàu muợn của các tiếng nói Đông Nam Á.

             Những chữ Tàu ấy rất lâu đời, đuợc viết lên các mảnh xương từ mấy ngàn năm về truớc, khi miền nam sông Dương tử chua phải là nơi sống của nguời Tàu [theo ông Shafer trong sách Ancient China].

             Thật ra, từ năm 1935, nhà khảo cổ George Coedes  có nhắc đến tên các con vật trong con giáp [chuột, trâu, bò, thỏ, rồng. rắn v.v] sao mà giống nhau quá giữa các tiếng Khmer, Lào, Thái và Muờng, Việt, mặc dầu hồi đó, cách đây 70 năm rồi, ai cũng tin là tiếng Việt là do tiếng Tàu mà ra [Phạm Quỳnh] và rất nhiều ông Hán Việt khác, ngay cả gần đây, ông Nguyễn Phương, Đại Học Huế, còn cho là:

nguời Việt là nguời Tàu qua đất Việt ở mà thành ra nguời Việt [sic] …trời đất !

     Suốt 22 năm qua, không những tôi đã cóp nhặt đuợc  rất nhiều tài liệu ngôn ngữ so sánh [comparative linguistic, cognates studies] chứng tỏ một cách rõ ràng là các tiếng nói ở Đông Nam Á đều có chia xẻ một nguồn gốc chung, mà có rất nhiều  tên hoa, trái, lá, câyvà những con thú vật đều đuợc các ngôn ngữ trong vùng đó gọi tên giống nhau và đặc biệt là tên các con vật năm tuổi.

             Sau đây là bảng so sánh lý thú  mà các bạn đọc chỉ cần nhìn vào thấy ngay sự giống nhau giữa các tiếng nói anh em ở Đông Nam Á, và thấy ngay sự khác biệt với tiếng Tàu.

             Các bạn đọc người Thái, Lào hay Khmer, Mường  cũng có thể đọc ngay chữ của họ và thấy ngay  sự giống nhau quá chừng với tiếng Việt của ta,

Có hàng  ngàn bảng so sánh  khác trong quyển Từ điển các tiếng đồng nguyên với tiếng Việt ở Đông Nam Á gồm cả thảy 275 ngàn tiếng một lẫn tiếng ghép [compound words] đồng nguyên với nhau [cognatics] làm thí dụ và bằng chứng cho nguồn gốc Nam Á của tiếng Việt vững chắc như đinh đóng cột, trong khi giả thuyết tiếng Việt từ tiếng Tàu mà ra đã bị ê-kíp ngôn ngữ học của Encyclopedia Britanica   bác bỏ  [xem đoạn trích dẫn sau đây].

             Tiếng Việt do đâu mà ra, ở đâu mà có  và lúc ban đầu nó như thế nào?

             Hãy nghe những  nhận xét mới mẻ nhất về nguồn gốc tiếng Việt từ Encyclopedia Britanica 1999 và Encarta Microsoft 2000:

 a long held notion that identified the Vietnamese with one tribe of the Yueh of Southern China has been abandoned

the theory that regards them [the Yueh] as direct ancestors of the Vietnamese conflicts with ethnographic and biological evidences.

Quan niệm lâu đời cho rằng nguời Việt là một trong những bộ lạc Yueh hồi xưa ở miền nam nuớc Tàu bây giờ; quan niệm ấy đã bị gạt bỏ

cái giả thuyết cho rằng dân Yueh ở bên Tàu  là tổ tiên trực tiếp của dân tộc Việt mâu thuẩn với những bằng cớ dữ kiện  nhân chủng và sinh học hiện đại

All points to strong social and cultural affinities between the Vietnamese and people of the Tai and Indonesian families

the Vietnamse people represents a racial and cultural fusion

    Mọi [sự kiện] đều cho thấy rằng có nhiều điểm rất giống nhau về văn hóa  và xã hội giữa các giống nguời Việt, nguời Thái [gốc Tai] và nguời Indonesian

modern day Vietnamese share many cultural and lingistic traits with other non-Chinese peoples living in neighboring  areas of Southeast Asia

the Vietnamsese language is distinct, it can be described as a fusion of Mon-Khmer, Tai and Chinese elements

nguời Việt ngày nay chia xẻ nhiều nét văn hóa  và ngôn ngữ với nhiều dân tộc  không phải là Tàu, đã và đang sinh sống ở những vùng lân cận với họ tại Đông Nam Á.

cái tiếng nói của họ thì riêng cho họ, có thể xem như là một hỗn hợp giữa dòng tiếng Mon-Khmer, các tiếng Tai và tiếng Tàu

 It is now generally believed that the Lac people were the result of  a mixture between Australo-Melanesian inhabitants who had lived in the area since the Paleolithic times and Asiatic people from China, who later migrated into the area.

    Ngày nay nguời ta đồng ý nghi rằng các bộ tộc dân Lạc [Tàu nói là Lo] xua là kết quả của một sự lai giống giữa các nguời Australo Melanesian [Nam đảo/các đảo miền nam] đa sinh sống tại chỗ, với các sắc dân Á châu [không cứ gì nguời Tàu] đã tràn xuống, mãi về sau này.

 The official language of Vietnam is the Vietnamse, a member of  the AstroAsiatic language family, a distinct language although it has some similarities to other languages of Southeast Asia and to Chinese.

Its syntax is closer to Khmer

    Tiếng Việt là tiếng nói chính thức của nguời Việt Nam, một nhánh ngôn ngữ của dòng họ AstroAsiatic [Nam Á][miền Nam Á châu] một thứ tiếng nói riêng biệt mặc dầu nó có nhiều sự giống nhau với các tiếng nói khác ở Đông Nam Á và cả với tiếng Tàu nữa.

Ngữ pháp [cách nói và đặt câu] của tiếng Việt giống với ngữ pháp của tiếng Khmer(theo Encarta Microsoft 2000)

Những lời nói trên là những gáo nuớc lạnh  dội lên lưng những ai còn nghi là tiếng Việt chỉ là một thứ con rơi con rớt , con hoang, con nuôi của tiếng Tàu.

Ông Huỳnh Tịnh Paulus Của đã viết trong bài mở đầu của từ điển Đại Nam quốc âm tự vị [1895]:

ấy nguời Giao chỉ điêu tàn  thì tiếng nói cùng chữ nghia Giao chỉ cung phải lạcnếu chẳng tham dụng chữ Trung quốc thì sao cho thành tiếng nói An nma? [sic]

Chú ý: chẳng qua là ông ta lầm cái tiếng với cái chữ, và đặt cái cày trước con trâu!

Ông Phạm Quỳnh đã nói cách đây 80 năm rằng:

quốc văn ắt phải có nguồn gốc từ đâu mà ra, và nguồn gốc ấy tức là Hán văn, quốc văn là cái văn từ nguồn gốc chữ nho [sic] không thể bỏ chữ nho mà thành lập đuợc.

Ông Phạm Duy Khiêm, đã nói, khi cọng tác với cụ Trần Trọng Kim làm quyển Việt Nam văn phạm rằng:

             cette langue est encore au stade des langues tribales [sic]

             tiếng Việt đang còn ở giai đoạn ngôn ngữ của một dân tộc thiểu số [sic]

chú ý: hiện nay tiếng Việt có độ 80 triệu nguời nói  và đứng thứ 14 về số đông nguời nói trên thế giới! Hai ông ấy lầm to !

 Ông Lê Ngọc Trụ, cách đây 40 năm, nhìn đâu cũng thấy tiếng Tàu, nên guợng ép gán cho rất nhiều tiếng Việt, từ Việt,những cái âm huởng đồng nguyên giả tạo [false cognatic inference] với tiếng Tàu hay âm Hán Việt mà không hề đưa ra bằng chứng  có thật về đồng nguyên với các ngôn ngữ khác ở Đông Nam Á:

 

chỉ                                             sinh ra [sic]                 giấy

tranh                                         sinh ra                         giành

chủng                                        sinh ra                         giống

chính                                         sinh ra                         giêng[sic] [chính nguyệt là tháng giêng !]

khang                                        sinh ra                         xương

cấp                                             sinh ra                         gấp

cuong                                         sinh ra                         giềng [-mối]

tiết                                              sinh ra                         Tết

tải [chuyên chở]                        sinh ra                          chài   [ghe chài][?!]

 

Ta hãy xem dưới đây nguồn gốc [cognates] thật sự của các tiếng trên để thấy cách suy luận ngẩu hứng [wishful thinking] của ông ấy:

 

GIẤY [paper/papier]

Muờng:             k-chấy

Burma:             s-giuếy

[nếu bảo là âm này là Tàu thì tại sao nguời Muờng và Burma  phát âm giống như Việt ?

 

GIÀNH [to dispute, compete, vie for, to accaparate, take away from][se disputer, entrer en compétition, semparer de]

Muờng:            chènh, chèng

Nùng:               cheng                        tranh giành

Thái:                 pr-chành

                         gièng

                         chjing                        giành nhau

Mon:                k-giành

Khmer:            pr-chèng

                         kòn-nhèng

                         tròn-chèng

Indonesia:       saing                          giành giựt

[nếu bảo là do chữ tranh của Tàu mà ra thì tại sao không nói cạnh giành, giành thủ, giành chấp,  chiến giành mà lại nói là cạnh tranh, tranh thủ, tranh chấp, chiến tranh?]

 GIỐNG  [species, gender, race][espèce, genre, race]

Hmong:  t-zống

Thái:       kh-yòng

                kh-giống  / cả Việt Thái Hmong đều có chung tiếng này

 GIÊNG  #  tháng giêng [first month of the lunar calendar][premier mois lunaire]

[không phải do chữ chính mà ra, vì nguồn gốc của nó khác hẳn:]

Thái:  chiêng                                    giêng

 đươn  chiêng                                   tháng giêng

 đuon  kiêng                                     tháng giêng

Nùng chiêng                                  giêng

hươn chiêng                                     tháng giêng

Lào đươn giêng                             tháng giêng

Burma:  a-yiêng                               [đầu tiên, truớc hết]

Pali/Sanscrit: yir                                   -id-

Chàm: bulăn dhir                             tháng giêng

[nếu bảo là do chữ chính ? của Tàu mà ra, thì tại sao lại không nói giêng trị, giêng quyền, giêng sách [sic] v.v. mà lại nói chính trị, chính quyền, chính sách ?]

 XƯƠNG  [bone][os]

Một tiếng rất hay nói: [bộ-, - xóc, gãy , v.v.] mà ông Lê Ngọc Trụ gán cho nó một âm huởng Hán Việt là khang [sic], trong khi hàng chục đồng nguyên của hàng chục ngôn ngữ anh em  với tiếng Việt duới đây, cho thấy quá rõ nguồn gốc rừ đâu:

Muờng:                                         xang

Nùng:                                            xang

Khmer:                                         x-uang

Aslian[bên Malyasia]                   xuong

Hmong/Mèo:                                x-âng

Bahmar:                                         x-ang, k-xang

Sedang:                                          k-siang, k-xiang

Katu, Bru:                                      ng-ang

Rengao:                                          k-xâng

Mdrah, Didrah, Todrah:        

[gần Kontum]                                 k-xeng

Palaung/Wa:                                   x-ang

Mundari, Santali

[Đông bắc Án]                                xang, zang, jang

[hàng chục sắc dân này đâu có dính dáng gì đến Tàu đâu, thế họ đều phát âm như Việt vậy]

 GẤP [hurried, hasty, urgent][urgent, en hâte, hâtif]

Malay: gapah                               gấp

Thái khu-ấp                                 “

           khấp                                    “                                 

           k-kấp k-kap                       gấp gáp!

           hu-ấp háp                           id

           h-ngốp hngap                     id

Khmer hi-ấp                                id

Saora[dòng Munda] s-gấp              id

Lào:     hấp/rấp                              id

             hấp rịp                              gấp và rộn rịp!

             hấp pày                             đi gấp

Chàm: h-gấp                                  gấp, vội

[cả vùng ngôn ngữ Đông Nam Á mấy trăm triệu nguời cũng nói vậy, đâu phải chỉ là vấn đề riêng giữa Việt và Tàu đâu mà bảo là gốc Tàu!]

 GIỀNG  [ giềng mối]

English: established customs, habits, patterns of transaction, business or ways of life

Français: coutumes, habitudes de vie, pratiques de transactions

Một chữ nghe âm huởng rất là Việt và có vẻ quê mùa, vậy mà dính gốc với Thái Lào thuần ròng và đúng điệu!

Thái:    yiềng                                  [kiểu cách, cách thức, đuờng lối]

             ji êng                                                       -id-

Khmer: riềng                                 hình thức, kiểu mẫu, mô hình

Lào:     yiềng                                  sự sắp xếp, xếp đặt,dàn xếp

[chữ giềng tự nó có nguồn gốc rõ ràng, cần gì phải guợng ép bắt nó dính líu vào chữ cương của Tàu?]

 CHÀI   [kẻ -, ông -, nguời -, bạn -, tay -, thuyền -, đi - , làm nghề -, thả -, kéo -, đan -, quăng -, cất -, dở -, vạn -, làng -//chóp -, nắm chóp -]

             -chài  cái luới, cái rớ, cái đồ đánh cá, dụng cụ để bắt cá

             -chài  tung ra, rải ra,quăng ra, vất ra, ném ra, lia ra, liệng ra, làm cho bung ra, tung ra

             -chài  (nghia bóng) là quyến rủ, dụ dỗ, mê hoặc, nhử cho ai bị mắc bẫy, mắc luới, vào tròng [chài gái, chài yểm , đi chài kẻ khờ khạo]

Eng : fish net, fish trap/to throw a fish net, to set a fish trap //  to trap, to entrap to lure into entrapment, to catch with a snare, to ensnare

Fr :  filet de pêche, épervier, tramail, carrelet de pêche / jeter lépervier

        / jeter un sort, envouter, captiver qq par des paroles douceureuses

Pali/Sanscrit /Thái:

              chal                             cái chài [# luới, rớ]

Lào :    chal                              cái chơm tre để chơm cá

Chàm: chal                               cái chài, luới cá, rớ cá

   thrah chal                             # thả luới, thả rớ để bắt cá

Indonesia

               jala                              cái chài [luới, rớ, dụng cụ bắt cá]

               Mata  jala                   mắt luới

                 TẾT [ngày -, ăn -, chúc -, lễ -, hội -, mừng -, đi -, biếu -, quà -, sắm - // - nhất,- ta, - tây, v.v.]

Tết  ngày hội hè đầu năm.

Eng : lunar new year festival, celebration, holidays

Fr :  nouvel an oriental, du calendrier lunaire

Một tiếng nhức nhối về ý nghĩa, các ông Hán Việt cho là nó đọc trẹ cái âm của Tàu là tiết(season, time, climate change)Từ điển Huỳnh Tịnh Của tiết đầu năm [sic]

Từ điển Khai trí tiến đức:  không hề cho rằng tết  tiết

Từ điển của A, de Rhodes: có nhắc đến những từ ngữ :  tết năm, tết ai, ăn tết.

* Nhưng coi chừng, cả mấy chục ngôn ngữ của Đông Nam Á không dính dáng gì đến Tàucũng nói như vậy!  Coi chừng bé cái lầm.  Sự thực, cái lầm này không bé tí nào, nó lầm lớn lắm  và lầm lẫn đã hơn hai ngàn năm nay rồi, hãy xem xét trong các ngôn ngữ sau đây:

Nùng Tét                                                          Tết

            niên Tét                                               năm Tết

Chàm: Băng Tít                                    ăn Tết [băng là ăn]

            Tít                                 Tết [lễ tháng năm của lịch Chàm]

            bùlăn Chết                                          tháng Tết

Khmer Chêtr                                        lễ tháng Năm [lịch xưa của Khmer]

                                                                tháng gió mùa bắt đầu thổi nguợc lại

                                                                tháng của mùa gió Nồm ở Đông Nam Á

                                                                tháng của mùa mưa đến trên lục địa Ấn và miền ĐNA

[Tùy theo vị trí từng nuớc, mưa đến với gió mùa từ cuối tháng tư đến cuối tháng năm] tên tháng 4 và tháng 5 của lịch Ấn xưa

                khae Chêt                        tháng Tết [tháng 4 dương lịch] khae là tháng tháng Tết Khmer # 13 tháng tư dương lịch

                                                          # 23 tháng ba âm lịch

                Chêt khal                         thời gian có lễ Tết ấy  

                [khal là thời gian, lúc, khi]

Thái:

                Thết

                Thết  khal                         /mùa Tết, những ngày Tết

                                                  [annual celebration /new year propitius ritual]

                Thết Thày                          Tết Thái [Thái new year ritual celebration]

                Trếts                                  # Tết [trong từ điển  Francais-Thái của Pallegoix]

                Trêts chền                         Chinese new year  

                                                               [chền là Tầu]

                 Chêtr                  fifth lunar month # mid April

                 Trôts                   lễ hội đầu mùa mưa của lịch Thái xưa, cuối April-May

                 Trôts farăng        dịch là Tết hoa lang  [western new year]

chú ý farăng # hoa lang # occidental, western do đó mà có đạo Hoa lang # đạo Thiên chúa

 Zhuang: SIT                       Tết của nguời Zhuang bên quảng Tây, một bộ tộc thuộc dòng Tai, họ đông đến 25 triệu nguời, nói tiếng Thái xưa

                  đuon Sit              tháng tết [yearly monsoon festival ritual celebration]

Mon:         k-Têh                  first days of Mon new year

Nepal:      Teej                     [Teetj Brata]     lễ đầu năm của nguời Nepal [theo báo Nguời Việt, Oct 9,1992, số 305]

Mustang: Tij, Tiji                ngày lễ mùa mưa đến  [xứ Mustang ở sát với Nepal]

Đông Bắc Ấn Độ: Teej       # monsoon festival

 [theo NationalGeographic] : swinging in celebration, village girls sing the ancient melodies of Teej, the festival     marking the return of the monsoon and the promise of prosperity

Sau cùng, cái cú dứt điểm [knoch out punch]

chấm dứt cái quan niệm sai lầm 2100 năm

của chúng ta là cú [coup] này:

Chính Khổng tử cũng không hề nói Tết là do tiết mà ra!  Ông nói rằng:

ta không biết Tết là gì! Nghe đâu đó là một ngày lễ hội lớn  của bọn nguời Man [sic] họ nhảy múa nhu điên, uống ruợu và ăn choi vào những ngày đó mà không phải là những ngày đầu năm của chúng ta. Nghe đâu họ gọi là Tế-sạ [sic] [theo kinh Lễ ký]

 Nếu Khổng tử nghĩ rằng tiết sinh ra tết, sao lại còn đi phiên âm khá vụng về là Tế-sạ làm gì? Chữ tiết của Tàu, dù là đời Khổng tử đi nữa, làm sao mà trẹ cái âm thành Tế-sạ đuợc?

    Bởi vì ổng không nghĩ như thế!

Rồi không lẽ ổng không nghĩ như thế  mà ta lại cứ khư khư bo bo  mà suy nghĩ như thếlàm gì nhỉ, hơn nữa, có cả chục ngôn ngữ khác  chẳng ăn thua gì đến tiếng Tàu cũng lại nói trại trại trẹ trẹ # Tết …y như ở trên, làm ta phải suy nghĩ  lại về cái hiểu lầm tết # tiết.

Bấy nhiêu cũng đủ đánh gục cái quan niệm hời hợt giả tạo là tiếng Tàu tiếng Việt một lò mà ra [sic]

Ông ấy lại còn viết:trong sự truy nguyên, còn xét những tiếng gần với tiếng Muờng chàm Thái Khmer, Mã Lai; công việc này ngoài phạm vi chính tả của chúng tôi [sic]

Vậy hóa ra ổng làm như thế  là những tiếng đó không có chính tả, muốn viết sao thì viết à?

Tại sao ông ấy lại cứ phải  né tránh, mà chỉ muốn truy nguyên riêng cho Hán Việt?

Đã gọi là truy nguyên mà cứ nhè một nguời / một đối tuợng mà truy thôi, hèn gì mà đối tuợng đó lãnh đủ

Có bao nhiêu tiếng Việt ổng đều qui cho là tại tiếng Tàu mà sinh ra cả!

Tội nghiệp cho tiếng Tàu, ai ăn đâu mà mình phải chịu trận.

Vậy thì chân tay ở đâu cà , không lẽ do thủ túc mà sinh ra?

Mặt, mũi, mắt ở đâu sinh ra, không lẽ lại bảo là ngoài phạm vi chính tả của ông?

Tệ hơn nữa, là gần đây ông Nguyễn Phương, giáo sư Đại Học Huế truớc 1963, còn viết:

‘…nguời Việt chẳng qua là nguời Tàu [sic] mà tràn xuống sinh sống ở vùng quanh châu thổ sông Hồng hiện nay, rồi khi đủ điều kiện thuận tiện [sic] thì trở thành nguới Việt[xin miễn phê bình]

‘…tiếng Việt chẳng qua là tiếng Tàu xen lẫn một vài tiếng Muờng tiếng Mọi mà thôi [sic]vì chẳng qua gặp dịp có thêm một vài tiếng  để mà tiện nói chuyện hay buôn bán với họ [sic] [xin miễn phê bình luôn vì nhận xét ấy quá kì!]

             Cũng may là có một số ít học giả [Nguyễn Háo Vinh, Nguyễn Văn Ngọc, Dương Quảng Hàm]  nhìn xa thấy rộng  hiểu biết rõ thêm về nguồn gốc thật sự của tiếng Việt, như ông Duong Quảng Hàm đã nói, khoảng năm 1941

             Lạ thay cho nuớc mình, có tiếng nói mà không hề ai học tiếng, không đâu dạy cách dùng tiếng, không sách nào nói đến nghia tiếng, cùng mẹo đặt câu…’

             chua từng ai nghiên cứu học hành tiếng An nam cả

[cái tinh đời của ông Dương Quảng Hàm là hiểu rằng chữ viết không phải là tiếng nói, viết ra mà không hiểu thì cũng như không!]

      Các nhà ngôn ngữ học hiện đại đều công nhận cái ưu tiên của lời nói hơn chữ viết rất nhiều [primacy of the spoken words over their written form]

             Tôi xin đưa ra một thí dụ trong hàng ngàn thí dụ:

             Nguời Việt ta viết đuợc chữ đau đớn [dù bằng cách viết abc hay bằng chữ Nôm] nhưng ta đâu có hiểu đớn là gì?!

             Có cả # 5000 tiếng Việt như đẹp đẽ, mới mẻ, sạch sẽ, vui vẻ, da dẻ,v.v. nếu chỉ viết vào đây thôi, ba ngày cũng chưa hết, vậy mà nguời Việt ta đâu có hiểu là gì?!

             Khuyết  điểm mà ông Duong Quảng Hàm nhận thấy đó nay đã đuợc bổ túc:

     Bộ Từ điển đồng nguyên tiếng Việt  và các tiếng Đông Nam Á

   / Vietnamese and Southeast Asian Cognatic dictionary

   / Dictionnaire cognatique Vietnamien et Sud-est Asiatique đang in và xuất bản duới hai hình thức: một bộ 10 CD và sách [4000 trang] sẽ cống hiến cho bạn đọc khắp nơi trên thế giới [Pháp, Anh Mỹ cũng đọc đuợc, mà ngay cả nguời Khmer, Chàm, Thái, Lào, Miến Điện Mã Lai, Indonesia cũng đọc đuợc dễ dàng từ điển này vì có ngay chữ viết của họ trong đó, chứ không phải chỉ phiên âm phiên chữ một cách giả tạo.

             Nhưng trên hết là, với 275 ngàn thí dụ đồng nguyên [cognatic correspondances] và hàng trăm bản đồ ghi chỗ ở và nơi xuất phát  của các dân tộc bộ lạc khắp vùng Đông Nam Á với chừng 27 ngàn tiếng Việt  của cả ba miền Bắc Trung Nam , để cho ai cũng thấy, nguời Việt cũng như nguời ngoại quốc, hiểu và ý thức đuợc rất rõ ràng là tiếng Việt không phải là do tiếng Tàu mà ra, trái lại, tiếng Việt là anh em họ hàng  với bao nhiêu là tiếng nói khác ở Đông Nam Á, mặc dù qua hon hai ngàn năm, cái chữ viết  khác nhau của các thứ chữ Đông Nam Á đã làm cho ta lầm tuởng  là cái âm, cái tiếng, cái nghia của các ngôn ngữ đó cũng khác nhau luôn!

             Thật ra, chúng nó đều giống nhau đến mức ngạc nhiên sững sờ [xem vài thí dụ đồng nguyên ở phụ lục cuối bài]:

 Từ xưa đến nay có bao nhiêu là giả thuyết về ngồn gốc tiếng Việt: nào là từ gốc tiếng Tàu [sic], nào là gốc Mon [ông Logan] cách đây đa 150 năm, nào là gốc Thái [ông Maspero], nào là gốc Mon-Khmer [đuợc nhiều nhà ngôn ngữ học nhìn nhận] rồi thì ông Haudricourt với những nhận xét về thanh âm tiếng Việt, và nhiều ông khác nữa, cho là gốc AustroAsiatic, một dòng họ ngôn ngữ lớn hơn cả dòng Mon Khmer nữa.

Không hề thấycó một giả thuyết nào  đuợc dẫn chứng với  những nghiên cứu chi tiết  và hoàn toàn đầy đủ cả, họ chỉ đua ra vài chục thí dụ  cho hàng chục ngôn ngữ, trung bình vài chục thí dụ cho một ngôn ngữ là cùng, trong khi tiếng Việt ta có đến 10 ngàn tiếng một, có gốc gác đàng hoàng và trên trăm ngàn tiếng ghép lại [ghép đôi, ghép ba, ghép bốn nữa là khác] thì một vài chục cái thí dụ họ đưa ra không đủ sức thuyết phục, không đủ điều kiện cần và đủ để minh xác cho bất cứ một nhận xét dữ kiện nào về tiếng Việt, dù là nhận xét về các nhấn giọng, các âm tiết các vần điệu, các tên bộ phận hay giác quan trong thân thể, cây cối, tên hoa lá, tên các trái, các con vật, v.v. nói chi đến nguồn gốc.

             Cái mà bất cứ nhà ngôn ngữ học nào chuyên về tiếng Việt cần có để học hỏi tìm kiếm rồi làm giả thuyết là một từ điển nghiên cứu đồng nguyên của tiếng Việt, không đuợc sót một từ nào, để tránh đưa ra vài thí dụ nghèo nàn vì thiếu tài liệu.

             Cái cần thiết không có không đuợc nay đã có.

             Từ điển đồng nguyên tiếng Việt-Đông Nam Á đưa ra 27 ngàn từ gốc gác của tiếng Việt, sẽ giúp cho bất cứ một học giả nào nghiên cứu tiếng Việt về mọi khía cạnh  chứ không riêng chi về nguồn gốc của nó, có đuợc ngay truớc mắt và trên tay, hàng trăm ngàn bằng chứng sờ sờ, hiển nhiên và thực tế về muôn điều muôn vẻ những chi tiết của tiếng Việt, so sánh với muôn điều muôn vẻ những chi tiết của từng ngôn ngữ khác nhau ở vùng Đông Nam Á.

             Nó sẽ cho họ thấy nổi bật lên hàng chục ngàn điểm giống nhau cũng như hàng ngàn điểm khác nhau, như một bản nhất lãm [synoptic table] khổng lồ về nguồn gốc của từng  tiếng Việt một, truớc khi tổng hợp chúng nó lại thành ra nhận xét chung về nguồn gốc của cả một ngôn ngữ hiện nay, dù ngôn ngữ đó là Việt hay Khmer, Thái, Lào, Chàm, Miến điện, Mã lai, Indonesia, v.v..

             Từ điển này không những tìm đồng nguyên  và nguồn gốc cho tiếng Việt mà thôi, nó còn là bộ sách tương đương cho hàng chục quyển từ điển riêng rẻ:  Việt-Khmer, Việt-Chàm, Việt Thái, Việt-Lào, Việt-Mòn [Mòn là một phần của dòng họ ngôn ngữ Mòn-Khmer], Việt-Mã lai, Việt-Indonesia, Việt-Myanmar [truớc đây là Miến điện], Việt-Khasi [một tiếng nói bên Đông bắc Ấn độ, giống tiếng Việt đến mức không tuởng tuợng đuợc, mặc dù nguời Khasi và tiếng Khasi rất xa lạ với chúng ta, phần đông chỉ quen với ngôn ngữ Tàu-Việt], ngoài ra còn có từ điển Việt-Muờng, Việt-Nùng, Việt-Mon Khmer. v.v…


NGUYỄN HY VỌNG M.D.

Tìm kiếm Blog này